Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai

Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai Ngày 12/8/2026, Bệnh viện Bạch Mai thành lập Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá trên cơ sở Khoa Nội tiết - Đái tháo đường.

Chào mừng bạn đến với fanpage chính thức của Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá bệnh viện Bạch Mai!

Sử dụng thuốc mỡ máu Statin ở một số nhóm bệnh nhân đặc biệt theo hướng dẫn của các Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ năm 2026
23/08/2026

Sử dụng thuốc mỡ máu Statin ở một số nhóm bệnh nhân đặc biệt theo hướng dẫn của các Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ năm 2026

ĐIỂM TIN NỘI TIẾT – CHUYỂN HOÁ | TUẦN 15–21/08/2026Trong các công bố mới xuất bản trực tuyến và các bài đáng chú ý của s...
21/08/2026

ĐIỂM TIN NỘI TIẾT – CHUYỂN HOÁ | TUẦN 15–21/08/2026

Trong các công bố mới xuất bản trực tuyến và các bài đáng chú ý của số tháng 8/2026, một số vấn đề nổi bật trải rộng từ dinh dưỡng và công nghệ trong đái tháo đường típ 1, phân nhóm đái tháo đường ở người Đông Á, nguy cơ tim mạch trong bệnh to đầu chi, sinh sản ở tăng sản thượng thận bẩm sinh, cho tới điều trị đích pheochromocytoma/paraganglioma và chiến lược điều trị tuần tự loãng xương.

Dưới đây là những cập nhật có giá trị tham khảo đối với thực hành Nội tiết – Chuyển hoá.

1. Time-restricted eating ở đái tháo đường típ 1: có thể cải thiện HbA1c, nhưng chưa cho thấy ưu thế về giảm cân

Ngày 17/8/2026, Diabetes Care đăng online thử nghiệm ngẫu nhiên đánh giá chế độ ăn giới hạn thời gian ở người trưởng thành mắc đái tháo đường típ 1 kèm thừa cân hoặc béo phì. Ba mươi hai bệnh nhân được phân vào nhóm ăn trong khung 12:00–20:00 không yêu cầu đếm calo, nhóm giảm 25% năng lượng hằng ngày hoặc nhóm chứng trong 6 tháng.

Time-restricted eating không tạo ra mức giảm cân khác biệt có ý nghĩa so với các nhóm còn lại. Tuy nhiên, HbA1c thấp hơn khoảng 0,46 điểm phần trăm so với nhóm hạn chế calo; nhu cầu insulin, Time in Range và glucose trung bình không khác biệt rõ. Không ghi nhận DKA, hạ đường huyết nặng hoặc tăng đường huyết nặng trong nghiên cứu.

Kết quả này đáng quan tâm nhưng cần được đặt đúng mức độ bằng chứng. Cỡ mẫu rất nhỏ nên chưa đủ để kết luận chắc chắn về an toàn hoặc khuyến cáo time-restricted eating thường quy cho ĐTĐ típ 1. Bất kỳ chiến lược nhịn ăn nào ở bệnh nhân đang sử dụng insulin đều cần đi kèm điều chỉnh liều và theo dõi glucose thích hợp. ADA 2026 cũng nhấn mạnh người dùng insulin cần được giám sát y tế khi áp dụng các hình thức fasting.

2. Automated Insulin Delivery ở trẻ dưới 7 tuổi: tăng Time in Range gần 2,4 giờ mỗi ngày

Một systematic review và meta-analysis trong số tháng 8/2026 của The Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism tổng hợp 30 nghiên cứu, bao gồm 9 RCT, với 1.155 trẻ dưới 7 tuổi mắc ĐTĐ típ 1.

So với điều trị không sử dụng AID, hệ thống cung cấp insulin tự động làm tăng Time in Range 70–180 mg/dL trung bình 9,88 điểm phần trăm, tương đương 2,37 giờ/ngày. Hiệu quả đặc biệt rõ vào ban đêm, với TIR tăng 16,85 điểm phần trăm. Thời gian tăng đường huyết giảm, HbA1c cải thiện nhẹ trong khi thời gian hạ đường huyết không tăng có ý nghĩa; DKA và hạ đường huyết nặng hiếm gặp. Độ chắc chắn của bằng chứng đối với TIR được đánh giá ở mức trung bình.

Ở trẻ nhỏ, nơi khẩu phần ăn, hoạt động và nhu cầu insulin thay đổi khó dự đoán, mức cải thiện hơn hai giờ mỗi ngày trong vùng mục tiêu có ý nghĩa thực hành rõ rệt. Tuy nhiên, hiệu quả của AID vẫn phụ thuộc vào chất lượng CGM, đào tạo người chăm sóc và khả năng tiếp cận hỗ trợ kỹ thuật.

3. Đái tháo đường ở người Đông Á: cùng là “típ 2” nhưng sinh lý bệnh có thể rất khác nhau

Ngày 17/8/2026, JCEM đăng mini-review Data-Driven Diabetes Clustering in East Asians: Pathological Heterogeneity and Personalized Medicine, tổng hợp bằng chứng về phân nhóm đái tháo đường dựa trên dữ liệu ở quần thể Đông Á.

Một đặc điểm nổi bật của người Đông Á là khả năng xuất hiện ĐTĐ ở BMI tương đối thấp, với suy giảm chức năng tế bào beta và tích tụ mỡ nội tạng đóng vai trò đáng kể. Các phân tích cho thấy phenotype SIDD – severe insulin-deficient diabetes – có tỷ lệ cao hơn ở người Đông Á so với người da trắng. Trong khi nhóm SIRD vẫn liên quan mạnh với MASLD và bệnh thận, nhóm SIDD ở người Đông Á có thể có nguy cơ bệnh thận mạn và sarcopenia đáng kể.

Đây là một hướng nghiên cứu đặc biệt đáng quan tâm đối với các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, clustering hiện vẫn chủ yếu là công cụ phân tầng nguy cơ và nghiên cứu; chưa có đủ bằng chứng để thay thế phân loại ĐTĐ hiện hành hoặc dùng một phenotype cluster đơn độc để quyết định thuốc.

4. Đái tháo đường liên quan bệnh to đầu chi: nguy cơ tim mạch cao hơn ĐTĐ típ 2 thông thường

Nghiên cứu đoàn hệ toàn quốc tại Thụy Điển, công bố online ngày 10/8/2026 trên JCEM, so sánh 348 bệnh nhân có đái tháo đường liên quan bệnh to đầu chi với 3.480 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 được ghép theo tuổi, giới, thời gian mắc ĐTĐ và thời điểm theo dõi.

Ngay tại thời điểm ban đầu, bệnh tim mạch đã phổ biến hơn ở nhóm acromegaly-associated diabetes. Trong quá trình theo dõi, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 55% so với nhóm ĐTĐ típ 2 (HR 1,55; 95% CI 1,24–1,94), đặc biệt liên quan đến rối loạn nhịp và huyết khối tĩnh mạch. Ngược lại, khác biệt về tử vong toàn bộ và tử vong tim mạch chưa đạt ý nghĩa thống kê.

Kết quả nhấn mạnh rằng tăng đường huyết trong bệnh to đầu chi không đơn thuần là một trường hợp ĐTĐ típ 2 xảy ra đồng thời. Dư thừa GH/IGF-1 tạo ra một nền bệnh sinh và nguy cơ tim mạch riêng; vì vậy điều trị cần song song kiểm soát hoạt tính bệnh to đầu chi và đánh giá tích cực tăng huyết áp, suy tim, rối loạn nhịp, ngưng thở khi ngủ và các yếu tố nguy cơ chuyển hoá.

5. Tăng sản thượng thận bẩm sinh và khả năng sinh sản: kiểm soát nhịp sinh học của glucocorticoid có thể quan trọng không kém tổng liều

Một nghiên cứu tiến cứu nhỏ công bố trên JCEM đánh giá 8 phụ nữ mắc tăng sản thượng thận bẩm sinh thể cổ điển do thiếu 21-hydroxylase, có rối loạn kinh nguyệt hoặc khó có thai dù đã được điều trị glucocorticoid thông thường trong thời gian dài. Sau chuyển sang modified-release hydrocortisone, progesterone, 17-hydroxyprogesterone, androstenedione và testosterone buổi sáng đều giảm, mặc dù tổng liều hydrocortisone tương đương không tăng.

Chu kỳ kinh trở lại đều ở cả 8 bệnh nhân. Cả 5 phụ nữ đang mong con đều có thai, với thời gian trung vị 9,8 tháng; tổng cộng ghi nhận 6 trẻ sinh sống khỏe mạnh và một sảy thai sớm.

Dữ liệu này gợi ý rằng ở phụ nữ CAH, vấn đề không chỉ là “ức chế androgen đủ hay chưa”, mà còn là kiểm soát sự tăng ACTH và progesterone vào thời điểm sinh học phù hợp. Tuy nhiên đây chỉ là case series 8 bệnh nhân, không có nhóm chứng, do đó chưa thể xem là bằng chứng xác lập một phác đồ mới.

6. Belzutifan và PPGL tiến triển: điều trị đích dựa trên trục HIF-2α

Một mini-review mới của JCEM tháng 8/2026 cập nhật vai trò của belzutifan trong pheochromocytoma và paraganglioma tiến triển. Cơ sở sinh học của thuốc đặc biệt phù hợp với các PPGL thuộc nhóm pseudohypoxia, trong đó rối loạn SDHx/VHL và các đường tín hiệu liên quan dẫn đến hoạt hóa HIF-2α.

Dữ liệu nền tảng từ thử nghiệm pha 2 LITESPARK-015 trên 72 bệnh nhân PPGL tiến triển tại chỗ hoặc di căn cho thấy objective response rate 26%, disease control rate 85%, thời gian đáp ứng trung vị 20,4 tháng và PFS trung vị 22,3 tháng. Trong số bệnh nhân đang dùng thuốc hạ áp, khoảng một phần ba giảm được ít nhất 50% liều của ít nhất một thuốc hạ áp trong thời gian ≥6 tháng.

Anemia là độc tính quan trọng và liên quan trực tiếp đến cơ chế HIF-2α; thiếu máu độ 3 được ghi nhận ở 22% bệnh nhân trong thử nghiệm. Belzutifan đã được FDA phê duyệt cho PPGL tiến triển, không thể phẫu thuật hoặc di căn từ năm 2025.

Đây là một ví dụ điển hình cho sự chuyển dịch của ung thư nội tiết từ điều trị chủ yếu dựa trên vị trí khối u sang điều trị dựa trên sinh học phân tử.

7. Loãng xương: liệu pháp tạo xương chỉ là “nửa đầu” của chiến lược điều trị

Một nghiên cứu đoàn hệ thực hành thực tế tại Hoa Kỳ trên 15.389 bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên đã bắt đầu romosozumab, teriparatide hoặc abaloparatide cho thấy khoảng trống lớn giữa guideline và thực hành.

Chỉ 30% hoàn thành liệu trình osteoanabolic theo khuyến cáo; 25% được chuyển sang thuốc chống huỷ xương đúng thời điểm, 24% chuyển muộn và khoảng 40% không nhận điều trị củng cố. Đáng chú ý, chỉ 12% toàn bộ quần thể hoàn thành cả liệu pháp tạo xương và được nối tiếp bằng antiresorptive đúng trình tự.

Điểm quan trọng của nghiên cứu không phải là phát hiện một thuốc mới, mà là nhắc lại nguyên tắc điều trị tuần tự. Sau teriparatide, abaloparatide hoặc romosozumab, kế hoạch chống huỷ xương nối tiếp cần được dự kiến từ đầu nhằm duy trì thành quả về mật độ và sức mạnh xương. Việc kết thúc thuốc tạo xương mà không có chiến lược tiếp theo có thể làm mất một phần lợi ích đã đạt được.

8. Klotho – aldosterone – huyết áp nhạy muối: thêm một mảnh ghép về sinh học của tăng huyết áp

Ngày 18/8/2026, JCEM công bố nghiên cứu đánh giá 168 biến thể vùng gene Klotho (KL) ở 407 người trong nghiên cứu HyperPATH được kiểm soát lượng natri trong chế độ ăn.

Biến thể rs9563124 được xác định là tín hiệu nổi bật. Allele G liên quan với huyết áp nhạy muối cao hơn, aldosterone nền cao hơn, aldosterone sau kích thích angiotensin II cao hơn và đáp ứng aldosterone mạnh hơn. Phân tích chức năng cũng cho thấy biến thể này có khả năng ảnh hưởng điều hòa biểu hiện gene.

Đây là nghiên cứu có giá trị về cơ chế, nối di truyền học với sinh lý động của hệ renin–angiotensin–aldosterone. Tuy nhiên, chưa có cơ sở để xét nghiệm Klotho trong đánh giá tăng huyết áp hoặc cường aldosterone nguyên phát thường quy. Chính các tác giả cũng nhấn mạnh cần nghiên cứu lặp lại độc lập và xác nhận thực nghiệm trước khi suy luận quan hệ nhân quả.

9. Phụ nữ quanh mãn kinh và tuyến giáp: triệu chứng chồng lấp không đồng nghĩa với bệnh tuyến giáp

Ở phụ nữ quanh và sau mãn kinh, mệt mỏi, thay đổi cân nặng, rối loạn giấc ngủ, hồi hộp hoặc thay đổi khí sắc có thể khiến bệnh nhân và thầy thuốc nghĩ tới rối loạn chức năng tuyến giáp. Khuyến cáo lâm sàng về mãn kinh năm 2026 nhấn mạnh TSH là xét nghiệm đầu tay khi đánh giá chức năng tuyến giáp; FT4 được thực hiện khi TSH bất thường hoặc nghi ngờ lâm sàng cao.

Điều đáng lưu ý là không nên điều trị levothyroxine chỉ dựa trên các triệu chứng không đặc hiệu. Ở phụ nữ sau mãn kinh không triệu chứng với suy giáp dưới lâm sàng và TSH

Trung tâm Nội tiết và chuyển hoá, 𝐁𝐕 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 𝐌𝐚𝐢 XIN THÔNG BÁO LỊCH LÀM VIỆC TỪ NGÀY 17/08-23/08/2026 TẠI HAI CƠ SỞ HÀ NỘI...
17/08/2026

Trung tâm Nội tiết và chuyển hoá, 𝐁𝐕 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 𝐌𝐚𝐢
XIN THÔNG BÁO LỊCH LÀM VIỆC TỪ NGÀY 17/08-23/08/2026
TẠI HAI CƠ SỞ HÀ NỘI VÀ NINH BÌNH.
I. CƠ SỞ HÀ NỘI (ẢNH SỐ 1)
- Phòng khám theo yêu cầu làm việc từ 6h - 16h30 từ thứ Hai đến Chủ Nhật hàng tuần.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̂̀𝑢 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡𝑎̣𝑖 𝑘ℎ𝑢 𝑡𝑎́𝑖 𝑘ℎ𝑎́𝑚, 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔 4, 𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 𝐾1 (𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 9 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔) hoặc đặt lịch qua app Bạch Mai care, chọn phòng khám chuyên khoa Nội tiết CƠ SỞ HÀ NỘI.

🆘 𝑩𝑵 𝒄𝒐́ 𝒏𝒉𝒖 𝒄𝒂̂̀𝒖 𝒌𝒉𝒂́𝒎 𝒕𝒉𝒆𝒐 𝒚𝒆̂𝒖 𝒄𝒂̂̀𝒖 𝒙𝒊𝒏 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂ 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒒𝒖𝒂 𝒔𝒐̂́ đ𝒊𝒆̣̂𝒏 𝒕𝒉𝒐𝒂̣𝒊: 0914868080 (𝒈𝒊𝒐̛̀ 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂ đ𝒂̆𝒏𝒈 𝒌𝒚́: 7𝒉30-16𝒉). Khi nhận được tin xác nhận, quý bệnh nhân có thể đến Bàn tiếp đón tại Phòng 418, tầng 4 nhà K1 để nhận phiếu khám và vào khám.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 ℎ𝑖𝑒̂̉𝑚 𝑦 𝑡𝑒̂́ 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑡𝑎̣𝑖 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 307- 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑐ℎ𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝑁𝑜̣̂𝑖 𝑡𝑖𝑒̂́𝑡, 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝐾ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑒̣̂𝑛ℎ (𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 𝐾2).

II. CƠ SỞ NINH BÌNH (ẢNH SỐ 2)
- Phòng khám theo yêu cầu làm việc từ 6h30 đến 16h30 từ thứ Hai đến thứ Bảy hàng tuần.
- RIÊNG CHỦ NHẬT: PHÒNG KHÁM YÊU CẦU LÀM VIỆC TỪ 7H ĐẾN 16H30.
✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̂̀𝑢 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡𝑎̣𝑖 TẦNG 2, khu 2A, BÀN QUẦY TIẾP ĐÓN hoặc đặt lịch qua app Bạch Mai care, chọn phòng khám chuyên khoa Nội tiết CƠ SỞ NINH BÌNH.
✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 ℎ𝑖𝑒̂̉𝑚 𝑦 𝑡𝑒̂́ 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑡𝑎̣𝑖 tầng 1, KHU 1A- BÀN QUẦY TIẾP ĐÓN, đăng kí vào 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑐ℎ𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝑁𝑜̣̂𝑖 𝑡𝑖𝑒̂́𝑡.
Xin trân trọng thông báo!




.

Tên gọi mới – Hành trình mới  - Tầm vóc mới.
14/08/2026

Tên gọi mới – Hành trình mới - Tầm vóc mới.

ĐIỂM TIN NỘI TIẾT – CHUYỂN HOÁ TUẦN 08–14/08/2026Trong tuần qua, một số công bố mới đáng chú ý tiếp tục bổ sung bằng chứ...
14/08/2026

ĐIỂM TIN NỘI TIẾT – CHUYỂN HOÁ
TUẦN 08–14/08/2026

Trong tuần qua, một số công bố mới đáng chú ý tiếp tục bổ sung bằng chứng cho thực hành Nội tiết – Đái tháo đường, từ công nghệ insulin ở trẻ nhỏ, chiến lược giảm cân sớm trong đái tháo đường típ 2, cập nhật chẩn đoán dậy thì sớm trung ương cho tới điều trị hội chứng Cushing và những dữ liệu mới về cường androgen trong hội chứng buồng trứng đa nang.

1. Hệ thống insulin tự động ở trẻ nhỏ mắc đái tháo đường típ 1: lợi ích rõ về Time in Range

Một phân tích gộp mới trên 30 nghiên cứu với hơn 1.100 trẻ dưới 7 tuổi mắc đái tháo đường típ 1 cho thấy hệ thống cung cấp insulin tự động (Automated Insulin Delivery – AID) giúp tăng Time in Range 70–180 mg/dL trung bình gần 10 điểm phần trăm, tương đương khoảng 2,4 giờ mỗi ngày. Lợi ích đặc biệt rõ vào ban đêm.

Đây là dữ liệu có ý nghĩa vì trẻ nhỏ là nhóm có biến thiên glucose lớn, nhu cầu insulin thay đổi nhanh và chế độ ăn thường khó dự đoán. Kết quả tiếp tục củng cố vai trò của AID trong quản lý đái tháo đường típ 1 ở lứa tuổi rất nhỏ, với điều kiện gia đình được đào tạo đầy đủ, hệ thống CGM hoạt động tin cậy và có đội ngũ chuyên môn hỗ trợ.

Nguồn: systematic review và meta-analysis, 2026.

2. Giảm cân sớm sau chẩn đoán đái tháo đường típ 2 có thể liên quan với giảm biến chứng dài hạn

Một nghiên cứu đoàn hệ mới trên người béo phì được chẩn đoán đái tháo đường típ 2 cho thấy những bệnh nhân giảm ít nhất 15% cân nặng trong hai năm đầu có nguy cơ thấp hơn đối với cả biến chứng mạch máu lớn và vi mạch trong thời gian theo dõi tiếp theo.

Kết quả này tiếp tục làm rõ một thay đổi quan trọng trong quan niệm điều trị đái tháo đường típ 2: quản lý cân nặng không chỉ là biện pháp hỗ trợ kiểm soát HbA1c mà có thể là một mục tiêu điều trị quan trọng ngay từ giai đoạn sớm của bệnh.

Tuy nhiên, đây là nghiên cứu quan sát nên chưa thể khẳng định quan hệ nhân quả. Dù vậy, dữ liệu vẫn nhấn mạnh giá trị của việc đánh giá béo phì, dinh dưỡng, vận động và cân nhắc các phương pháp điều trị giảm cân có bằng chứng ngay từ thời điểm mới chẩn đoán.

Nguồn: Diabetes Care, 2026.

3. Cập nhật về dậy thì sớm trung ương: tránh xét nghiệm và chụp MRI quá mức ở nhóm nguy cơ thấp

Khuyến cáo mới của Endocrine Society đưa ra cách tiếp cận thận trọng hơn đối với một số trẻ có dấu hiệu dậy thì sớm nhưng tiến triển chưa rõ.

Ở trẻ gái xuất hiện phát triển tuyến vú trong khoảng 7–8 tuổi và không có các dấu hiệu gợi ý tiến triển nhanh, có thể theo dõi lâm sàng định kỳ trước khi quyết định làm toàn bộ xét nghiệm nội tiết hoặc chụp MRI. Khi cần đánh giá hormone, LH nền bằng phương pháp siêu nhạy được ưu tiên trước khi chỉ định nghiệm pháp kích thích GnRH thường quy.

MRI não cũng không nhất thiết phải thực hiện thường quy ở mọi trẻ gái 6–8 tuổi hoặc trẻ trai 8–9 tuổi nếu không có biểu hiện thần kinh hoặc các yếu tố nguy cơ khác.

Thông điệp quan trọng của hướng dẫn mới là giảm chẩn đoán và can thiệp quá mức, nhưng vẫn cần theo dõi chặt tốc độ tăng trưởng, tiến triển giai đoạn Tanner, tuổi xương và các triệu chứng thần kinh đi kèm.

Nguồn: Endocrine Society Clinical Practice Guideline, 2026.

4. Osilodrostat trong hội chứng Cushing có nguồn gốc tuyến thượng thận: thêm dữ liệu từ thực hành lâm sàng

Một nghiên cứu quốc tế thực hành thực tế trên bệnh nhân hội chứng Cushing có nguồn gốc tuyến thượng thận ghi nhận tỷ lệ kiểm soát sinh hóa tăng dần theo thời gian điều trị osilodrostat. Huyết áp và cân nặng cũng có xu hướng cải thiện ở những bệnh nhân đáp ứng.

Kết quả này bổ sung thêm bằng chứng cho việc sử dụng osilodrostat trong những tình huống như bệnh nhân chưa thể phẫu thuật, cần kiểm soát cortisol trước mổ, hoặc bệnh tồn lưu và tiến triển.

Tuy nhiên, tỷ lệ biến cố bất lợi không thấp và một số bệnh nhân phải ngừng điều trị. Vì vậy, osilodrostat cần được sử dụng dưới sự theo dõi chuyên khoa chặt chẽ do nguy cơ suy thượng thận và các rối loạn liên quan đến tổng hợp steroid.

Nguồn: nghiên cứu thực hành thực tế đa quốc gia, 2026.

5. Hội chứng buồng trứng đa nang: 11-oxygenated androgens có thể mở rộng hiểu biết về cường androgen

Một nghiên cứu mới trên phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) cho thấy một số androgen có nguồn gốc chủ yếu từ tuyến thượng thận như 11-ketotestosterone và 11β-hydroxytestosterone tăng ở một số kiểu hình bệnh.

Dữ liệu này gợi ý rằng cường androgen trong PCOS có thể phức tạp hơn việc chỉ đánh giá testosterone toàn phần hoặc tự do. Tuy nhiên, giá trị của nhóm xét nghiệm này hiện chủ yếu nằm ở nghiên cứu cơ chế và phân nhóm kiểu hình; chưa có đủ bằng chứng để đưa vào thực hành lâm sàng thường quy.

Nguồn: Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism, 2026.

Nhận định chung

Các cập nhật trong tuần tiếp tục phản ánh xu hướng chung của Nội tiết – Chuyển hoá hiện đại: điều trị ngày càng dựa trên phân tầng nguy cơ, đặc điểm sinh học của từng người bệnh và các tiêu chí kết cục có ý nghĩa lâm sàng, thay vì chỉ tập trung vào một chỉ số xét nghiệm riêng lẻ.

Công nghệ insulin đang tiến gần hơn tới các nhóm bệnh nhân nhỏ tuổi và phức tạp hơn; quản lý cân nặng ngày càng được xem là một phần trọng tâm trong điều trị đái tháo đường típ 2; trong khi ở các bệnh lý nội tiết chuyên sâu, các khuyến cáo mới nhấn mạnh đồng thời hai yêu cầu: tránh bỏ sót bệnh nhưng cũng tránh xét nghiệm và điều trị quá mức.

Cập nhật y học là cần thiết, nhưng việc chuyển một kết quả nghiên cứu thành quyết định điều trị vẫn cần dựa trên chất lượng bằng chứng, bối cảnh lâm sàng và đặc điểm cụ thể của từng người bệnh.

Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá – Bệnh viện Bạch Mai

CÓ NÊN NGỪNG STATIN Ở NGƯỜI TỪ 75 TUỔI TRỞ LÊN? DỮ LIỆU MỚI TỪ THỬ NGHIỆM SAGA/SITE – THE LANCET HEALTHY LONGEVITY 2026L...
13/08/2026

CÓ NÊN NGỪNG STATIN Ở NGƯỜI TỪ 75 TUỔI TRỞ LÊN? DỮ LIỆU MỚI TỪ THỬ NGHIỆM SAGA/SITE – THE LANCET HEALTHY LONGEVITY 2026

Lợi ích của statin trong dự phòng thứ phát bệnh tim mạch do xơ vữa đã được xác lập rõ ràng. Tuy nhiên, ở người cao tuổi chưa từng có ASCVD, đặc biệt từ 75 tuổi trở lên, bằng chứng cho việc tiếp tục statin với mục tiêu dự phòng tiên phát vẫn còn hạn chế. Một câu hỏi thực hành thường gặp là: ở bệnh nhân đã sử dụng statin nhiều năm, liệu có nhất thiết phải tiếp tục điều trị sau tuổi 75?

Thử nghiệm ngẫu nhiên SAGA/SITE, mới được công bố trên The Lancet Healthy Longevity năm 2026, cung cấp thêm dữ liệu đáng chú ý cho vấn đề này.

Đây là thử nghiệm ngẫu nhiên, đa trung tâm, nhãn mở, thiết kế non-inferiority, được thực hiện tại 297 cơ sở chăm sóc ban đầu ở Pháp. Đối tượng nghiên cứu là người ≥75 tuổi, chưa có tiền sử ASCVD và đã sử dụng statin ít nhất một năm với mục đích dự phòng tiên phát. Người tham gia được phân ngẫu nhiên tiếp tục hoặc ngừng statin và theo dõi trong 36 tháng. Tiêu chí chính là tử vong do mọi nguyên nhân sau 3 năm, với biên không kém hơn được xác định trước là chênh lệch tuyệt đối 5%.

Có 1.160 bệnh nhân được đưa vào phân tích chính, tuổi trung vị 80. Đây không hoàn toàn là một quần thể nguy cơ thấp: 29,5% mắc đái tháo đường, 77,2% tăng huyết áp, khoảng 66% có SCORE2-OP ≥15%, và 61,7% đã sử dụng statin trên 10 năm. LDL-C trung bình tại thời điểm ban đầu khoảng 113 mg/dL.

✅Kết quả chính: sau 36 tháng, tử vong do mọi nguyên nhân xảy ra ở 7,9% bệnh nhân tiếp tục statin và 7,2% bệnh nhân ngừng statin. Chênh lệch tuyệt đối là −0,68% (KTC 95%: −3,95 đến 2,60). Do giới hạn trên của khoảng tin cậy 95% không vượt quá biên non-inferiority 5% đã xác định trước, nghiên cứu kết luận rằng ngừng statin không kém hơn tiếp tục statin về tử vong toàn bộ trong thời gian 3 năm.

Đối với các tiêu chí thứ phát, biến cố tim mạch lớn xảy ra ở 4,4% nhóm tiếp tục statin và 5,0% nhóm ngừng statin; tiêu chí kết hợp tử vong hoặc biến cố tim mạch lớn lần lượt là 11,4% và 12,0%. Chất lượng cuộc sống không khác biệt giữa hai nhóm. Đáng lưu ý, ngừng statin cũng không làm giảm rõ rệt tổng số biến cố bất lợi: tỷ lệ tất cả các biến cố bất lợi là 73,1% ở nhóm tiếp tục và 74,0% ở nhóm ngừng thuốc.

‼️Một điểm cần lưu ý là LDL-C tăng nhanh sau khi ngừng thuốc. Trong vòng 3 tháng, LDL-C trung bình ở nhóm ngừng statin tăng từ khoảng 115 mg/dL lên khoảng 171 mg/dL, trong khi gần như ổn định ở nhóm tiếp tục điều trị. Mặc dù sự gia tăng LDL-C này chưa chuyển thành khác biệt có ý nghĩa về biến cố tim mạch trong 3 năm, ảnh hưởng dài hạn của việc ngừng statin vẫn chưa được nghiên cứu này trả lời. Chính các tác giả cũng lưu ý rằng lợi ích của statin tích lũy theo thời gian và chưa rõ liệu việc mất tác dụng ổn định mảng xơ vữa sau ngừng thuốc có ảnh hưởng đến nguy cơ tim mạch ở những thời điểm xa hơn hay không.

Điểm quan trọng nhất khi diễn giải SAGA/SITE là không được đồng nhất kết quả này với thông điệp “trên 75 tuổi có thể ngừng statin”.

1. Thứ nhất, nghiên cứu chỉ tuyển bệnh nhân dự phòng tiên phát, tức chưa có ASCVD. Kết quả hoàn toàn không thể ngoại suy cho bệnh nhân đã có bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, đột quỵ thiếu máu não, bệnh động mạch ngoại biên hoặc các biểu hiện ASCVD khác.

2. Thứ hai, đây là nghiên cứu non-inferiority và có những hạn chế phương pháp học đáng lưu ý. Nghiên cứu dự kiến tuyển 2.430 người nhưng chỉ tuyển được 1.180; đồng thời tỷ lệ tử vong thực tế khoảng 7,6%, chỉ bằng một nửa mức 15% được sử dụng khi tính cỡ mẫu. Các tác giả thừa nhận rằng với tỷ lệ biến cố thực tế thấp như vậy, biên non-inferiority tuyệt đối 5% trở nên tương đối rộng so với nguy cơ nền và làm giảm độ chắc chắn của kết luận.

3. Thứ ba, thời gian theo dõi 3 năm tương đối ngắn đối với một can thiệp dự phòng xơ vữa động mạch. Các phân tích tiêu chí thứ phát cũng cần được diễn giải thận trọng do nghiên cứu không hiệu chỉnh mức alpha cho nhiều phép so sánh.

Một vấn đề đặc biệt liên quan đến thực hành nội tiết là nhóm bệnh nhân đái tháo đường. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân có đái tháo đường cao hơn đáng kể so với nhóm không đái tháo đường. Trong phân tích dưới nhóm, chênh lệch tử vong giữa ngừng và tiếp tục statin là 0,89%, nhưng KTC 95% rất rộng từ −6,53 đến 8,32%. Vì vậy, nghiên cứu này không đủ độ chính xác để khẳng định tính không kém hơn của chiến lược ngừng statin riêng ở bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi.

SAGA/SITE vì vậy không phải là một thử nghiệm “chứng minh statin không còn tác dụng sau tuổi 75”. Nghiên cứu cung cấp một thông tin khác tinh tế hơn: ở một số người ≥75 tuổi, chưa có ASCVD và đã dùng statin lâu dài cho dự phòng tiên phát, ngừng statin không làm tăng tử vong toàn bộ trong 3 năm trong giới hạn thống kê của thử nghiệm. Điều này tạo thêm cơ sở để thảo luận về deprescribing thay vì mặc định mọi bệnh nhân đều phải tiếp tục statin suốt đời.

✅Trong thực hành, quyết định tiếp tục hay ngừng statin ở người cao tuổi cần được cá thể hóa, dựa trên nguy cơ ASCVD tổng thể, tiền sử đái tháo đường và bệnh thận, mức LDL-C, tình trạng frailty, đa bệnh lý và polypharmacy, khả năng dung nạp thuốc, tuổi thọ kỳ vọng cũng như ưu tiên của người bệnh.

Nguồn: Bonnet F, et al. Discontinuation of statins for primary prevention of atherosclerotic cardiovascular disease in adults aged 75 years or older (SAGA/SITE): a multicentre, open-label, pragmatic, non-inferiority randomised trial. The Lancet Healthy Longevity. 2026.

Trung tâm Nội tiết và Chuyển hóa – Bệnh viện Bạch Mai

Hiểu đúng về kết quả xét nghiệm mỡ máu: Thông số nào là quan trọng nhất ?Khi xét nghiệm mỡ máu, chúng ta thường nhận đượ...
08/08/2026

Hiểu đúng về kết quả xét nghiệm mỡ máu: Thông số nào là quan trọng nhất ?

Khi xét nghiệm mỡ máu, chúng ta thường nhận được 4 chỉ số: Cholesterol toàn phần (mà thường chỉ ghi là cholesterol), LDL-Cholesterol (viết tắt là LDL-C), HDL-Cholesterol (viết tắt là HDL-C) và Triglyceride (TG). Tuy nhiên, không phải chỉ số nào cũng có ý nghĩa như nhau. Nếu muốn đánh giá nguy cơ tim mạch và quyết định có cần điều trị thuốc hay không thì các cơ sở được xếp theo thứ tự: LDL-C quan trọng nhất, tiếp đến HDL-C và Triglyceride.

1. LDL-C – “cholesterol xấu”, chỉ số cần quan tâm nhất
• LDL-C có thể ví như những “xe chở cholesterol” lưu thông trong máu. Khi LDL-C quá cao, cholesterol dễ tích tụ trong thành động mạch, lâu ngày hình thành mảng xơ vữa, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
• Vì vậy, khi đọc xét nghiệm mỡ máu, hãy nhìn LDL-C đầu tiên. LDL-C càng thấp thường càng tốt đối với nguy cơ tim mạch, nhưng mức mục tiêu cụ thể phụ thuộc vào nguy cơ của từng người.

2. HDL-C – “cholesterol tốt”
HDL-C thường được gọi là “cholesterol tốt” vì tham gia vận chuyển cholesterol từ các mô về gan để xử lý. HDL-C thấp thường đi kèm nguy cơ tim mạch và rối loạn chuyển hóa cao hơn.
Tuy nhiên, khác với LDL-C, hiện nay không đặt mục tiêu điều trị HDL-C bằng cách dùng thuốc để tăng HDL-C đơn thuần. Thay vào đó, nên tập trung vào vận động, chế độ ăn lành mạnh, kiểm soát cân nặng và các yếu tố nguy cơ khác.

3. Triglyceride – một loại mỡ khác trong máu
Triglyceride tăng thường liên quan đến thừa cân, béo phì, ăn nhiều đường và tinh bột tinh chế, uống rượu, đái tháo đường kiểm soát chưa tốt và một số bệnh lý khác.
Triglyceride ≥150 mg/dL (≥1,7 mmol/L) được xem là tăng. Triglyceride càng cao, đặc biệt khi tăng > 5,6 mmol/L thì có nguy cơ gây viêm tụy cấp, và cũng có thể gây bệnh tim mạch nhưng nguy cơ thấp hơn so với tăng LDL_C. Điều trị tăng Triglyceride cần ưu tiên bằng thay đổi lối sống (chế độ ăn, tập luyện và đặc biệt là bỏ rượu)

4. Cholesterol toàn phần: Vì nó được ghi tên đầy đủ là Cholesterol và lại được xếp đầu trong nhóm kết quả xét nghiệm mỡ máu nên nhiều người chỉ chú ý đến thông số này. Họ cho rằng đây là thông số quyết định có cần dùng thuốc mỡ máu hay không.
Thực ra, Cholesterol toàn phần là tổng lượng cholesterol trong các loại lipoprotein khác nhau, bao gồm cả cholesterol “xấu” và “tốt”. Do đó, Cholesterol toàn phần đơn độc không đủ để đánh giá nguy cơ tim mạch và quyết định điều trị. Một người có Cholesterol toàn phần không cao vẫn có thể có LDL-C cao và cần điều trị tích cực, ngược lại người có Cholesterol toàn phần cao nhưng có thể do HDL-C cao còn LDL-C không cao nên có thể lại không cần điều trị.

5. Non-HDL-C = Cholesterol toàn phần – HDL-C. Non HDL-C là một thông số rất hữu ích
Lý do là vì non-HDL-C phản ánh tổng lượng cholesterol nằm trong các loại lipoprotein có khả năng gây xơ vữa. Chỉ số này đặc biệt hữu ích khi Triglyceride tăng, vì khi đó LDL-C có thể chưa phản ánh đầy đủ gánh nặng lipoprotein gây xơ vữa.

6. Người bệnh đái tháo đường típ 2 cần mục tiêu chặt chẽ hơn
Đái tháo đường típ 2 làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Vì vậy, việc kiểm soát mỡ máu, đặc biệt là LDL-C, rất quan trọng.
Mục tiêu cụ thể cần được bác sĩ xác định dựa trên tuổi, thời gian mắc đái tháo đường, bệnh tim mạch, bệnh thận, tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ khác.
• Ở BN đái tháo đường có nguy cơ tim mạch cao: LDL-C

ĐIỂM TIN NỘI TIẾT – ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUẦN 01–07/08/2026Một số công bố mới trong tuần qua tiếp tục cho thấy những thay đổi ...
07/08/2026

ĐIỂM TIN NỘI TIẾT – ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
TUẦN 01–07/08/2026

Một số công bố mới trong tuần qua tiếp tục cho thấy những thay đổi đáng chú ý trong điều trị đái tháo đường, béo phì, quản lý insulin bằng công nghệ và dự phòng nguy cơ tim mạch. Dưới đây là một số nghiên cứu có giá trị tham khảo đối với thực hành lâm sàng.

1. CagriSema tiếp tục được đánh giá trong điều trị đái tháo đường típ 2 và béo phì

CagriSema là phối hợp cố định giữa semaglutide, chất đồng vận thụ thể GLP-1, và cagrilintide, một chất tương tự amylin tác dụng kéo dài.

Trong chương trình thử nghiệm pha 3 REIMAGINE, CagriSema tiếp tục cho thấy hiệu quả đáng kể về kiểm soát đường huyết và giảm cân. Ở nghiên cứu đối đầu với tirzepatide trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 đang điều trị metformin có hoặc không phối hợp SGLT2i, CagriSema đạt tiêu chí không kém hơn về giảm cân nhưng chưa đạt tiêu chí không kém hơn về giảm HbA1c.

Kết quả này cho thấy hướng phối hợp nhiều cơ chế điều hòa cảm giác no và chuyển hóa đang trở thành một trong những chiến lược quan trọng trong phát triển thuốc điều trị béo phì và đái tháo đường.

Tuy nhiên, vị trí thực sự của CagriSema trong thực hành còn cần được đánh giá trên dữ liệu công bố đầy đủ, đặc biệt về khả năng dung nạp, tính bền vững của hiệu quả, tác động lên thành phần cơ thể và các biến cố tim mạch – thận.

Mức độ bằng chứng: thử nghiệm pha 3; hiện một phần dữ liệu mới ở dạng báo cáo kết quả ban đầu.

***

2. Hệ thống insulin tự động trong giai đoạn chuyển dạ ở phụ nữ đái tháo đường típ 1

Một phân tích định trước từ thử nghiệm CIRCUIT cung cấp thêm dữ liệu về việc tiếp tục sử dụng hệ thống insulin vòng kín trong thời gian chuyển dạ và giai đoạn sớm sau sinh.

Trong nghiên cứu, phần lớn sản phụ thuộc nhóm sử dụng closed-loop có thể tiếp tục hệ thống trong chuyển dạ, với tỷ lệ phải chuyển sang truyền insulin tĩnh mạch thấp hơn rõ rệt so với chăm sóc thông thường. Thời gian glucose nằm trong khoảng mục tiêu thai kỳ trong 24 giờ trước sinh cũng cao hơn.

Kết quả này có ý nghĩa thực hành vì tại nhiều cơ sở, bệnh nhân sử dụng bơm insulin hoặc hệ thống tự động thường được chuyển sang insulin tĩnh mạch khi bước vào chuyển dạ.

Dữ liệu hiện nay gợi ý rằng ở những bệnh nhân được lựa chọn phù hợp, thành thạo thiết bị và được theo dõi tại cơ sở có quy trình phối hợp chặt chẽ giữa Nội tiết, Sản khoa và Gây mê hồi sức, việc tiếp tục hệ thống insulin tự động trong chuyển dạ có thể là một lựa chọn khả thi.

Mức độ bằng chứng: phân tích định trước từ thử nghiệm ngẫu nhiên; số lượng bệnh nhân còn hạn chế.

***

3. GLP-1RA ở bệnh nhân có tiền sử ung thư tuyến giáp biệt hóa

Mối liên quan giữa GLP-1RA và ung thư tuyến giáp vẫn là vấn đề được quan tâm khi nhóm thuốc này ngày càng được sử dụng rộng rãi trong điều trị đái tháo đường và béo phì.

Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu mới trên hơn 1.000 bệnh nhân ung thư tuyến giáp biệt hóa không ghi nhận sự gia tăng có ý nghĩa về nguy cơ tái phát hoặc tiến triển cấu trúc của bệnh ở nhóm có sử dụng GLP-1RA.

Kết quả này bổ sung thêm dữ liệu cho thấy cần phân biệt rõ ung thư tuyến giáp biệt hóa, đặc biệt ung thư thể nhú và thể nang, với ung thư tuyến giáp thể tủy khi đánh giá vấn đề an toàn của GLP-1RA.

Tuy nhiên, đây vẫn là nghiên cứu quan sát và chưa đủ cơ sở để loại trừ hoàn toàn mọi nguy cơ. Các chống chỉ định hoặc cảnh báo liên quan đến tiền sử ung thư tuyến giáp thể tủy và MEN2 vẫn cần được tuân thủ theo thông tin kê đơn của từng thuốc.

Mức độ bằng chứng: nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu; có giá trị hỗ trợ nhưng chưa phải bằng chứng khẳng định quan hệ nhân quả.

***

4. Insulin glargine so với insulin NPH ở người trẻ mắc đái tháo đường típ 1 trong điều kiện nguồn lực hạn chế

Thử nghiệm HumAn-1 đánh giá insulin glargine so với insulin NPH ở trẻ em và người trẻ mắc đái tháo đường típ 1 tại một số quốc gia có nguồn lực y tế hạn chế.

Ở thời điểm sáu tháng, insulin glargine chưa tạo ra khác biệt rõ rệt về Time in Range so với insulin người. Tuy nhiên, khi theo dõi dài hơn, nhóm sử dụng glargine ghi nhận ít thời gian hạ đường huyết rất thấp và ít hạ đường huyết ban đêm hơn.

Nghiên cứu có ý nghĩa đáng kể về mặt thực hành và chính sách y tế. Insulin analogue có ưu thế về dược động học và nguy cơ hạ đường huyết trong một số hoàn cảnh, nhưng insulin người vẫn giữ vai trò quan trọng tại những nơi khả năng tiếp cận thuốc còn hạn chế.

Hiệu quả điều trị không chỉ phụ thuộc vào loại insulin, mà còn phụ thuộc vào giáo dục bệnh nhân, khả năng tự theo dõi glucose, dinh dưỡng, kỹ thuật tiêm và khả năng điều chỉnh liều phù hợp.

Mức độ bằng chứng: thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm.

***

5. Evolocumab và dự phòng biến cố tim mạch đầu tiên ở bệnh nhân đái tháo đường nguy cơ cao

Một phân tích định trước từ thử nghiệm VESALIUS-CV tập trung vào nhóm bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ tim mạch cao nhưng chưa có biểu hiện lâm sàng rõ ràng của bệnh tim mạch xơ vữa.

Khi evolocumab được bổ sung trên nền điều trị hạ lipid, nguy cơ các biến cố tim mạch chính giảm so với placebo.

Dữ liệu này góp phần mở rộng bằng chứng về lợi ích của việc hạ LDL-C tích cực bằng thuốc ức chế PCSK9 ở một số bệnh nhân thuộc nhóm dự phòng tiên phát nhưng có nguy cơ tuyệt đối rất cao.

Điều này không đồng nghĩa mọi bệnh nhân đái tháo đường đều cần sử dụng PCSK9. Việc lựa chọn điều trị vẫn phải dựa trên phân tầng nguy cơ tim mạch, mức LDL-C đạt được sau statin dung nạp tối đa và ezetimibe, tổn thương cơ quan đích, bệnh đồng mắc cũng như khả năng tiếp cận điều trị.

Mức độ bằng chứng: phân tích định trước từ thử nghiệm ngẫu nhiên tim mạch lớn.

***

Nhận định chung

Các dữ liệu mới trong tuần tiếp tục phản ánh xu hướng ngày càng rõ của Nội tiết – Đái tháo đường hiện đại: điều trị không chỉ hướng tới kiểm soát một chỉ số đơn lẻ mà dựa ngày càng nhiều hơn vào phân tầng nguy cơ và đặc điểm của từng người bệnh.

Ở bệnh nhân đái tháo đường, mục tiêu điều trị đang mở rộng từ HbA1c sang dự phòng biến cố tim mạch – thận, giảm nguy cơ hạ đường huyết và tăng thời gian glucose trong khoảng mục tiêu. Trong điều trị béo phì, các thuốc đa cơ chế tiếp tục được phát triển với hiệu lực ngày càng cao nhưng cần được đánh giá song song về tính an toàn và khả năng duy trì lâu dài. Với công nghệ đái tháo đường, dữ liệu mới đang từng bước mở rộng phạm vi ứng dụng của các hệ thống insulin tự động sang những tình huống lâm sàng phức tạp hơn.

Việc cập nhật nghiên cứu mới là cần thiết, nhưng quan trọng hơn vẫn là đánh giá đúng chất lượng bằng chứng và đặt kết quả nghiên cứu vào bối cảnh của từng bệnh nhân trước khi thay đổi thực hành.

Khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai

Address

Hanoi
100000

Telephone

+84914868080

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share