Đông Y Cổ Truyền Trường Minh

  • Home
  • Đông Y Cổ Truyền Trường Minh

Đông Y Cổ Truyền Trường Minh LƯU TRỮ KHO BÁU CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỔ TRUYỀN + HUYỀN HỌC

10/07/2026

LUẬN VỀ CẤM KỴ VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG GIÁC HƠI
THIÊN Y QUÁN SƯU TẦM & DỊCH

Xin chào mọi người. Thời gian gần đây, chúng tôi đã chia sẻ với các bạn khá nhiều nghiên cứu lâm sàng cũng như nghiên cứu về cơ chế của liệu pháp giác hơi. Lợi ích của liệu pháp giác hơi là điều đã được mọi người công nhận rộng rãi. Vì vậy, hôm nay tác giả sẽ cùng bàn luận với các bạn về những điều cấm kỵ và rủi ro trong giác hơi, nhằm phòng bệnh từ khi chưa phát tác, đề phòng bất trắc.

1.1. Những điều cần lưu ý trước khi giác hơi
Xét từ góc độ môi trường thực hiện thủ thuật, khi giác hơi cần giữ cho không khí trong phòng trong lành, duy trì nhiệt độ trên 20 độ C, lấy mức bệnh nhân cảm thấy thoải mái làm chuẩn. Mùa hè cần tránh gió quạt thổi trực tiếp, mùa đông cần giữ ấm trong phòng để tránh cảm nhiễm phong hàn.
Xét từ góc độ khử trùng trước khi làm thủ thuật và kiểm tra dụng cụ, trước khi thao tác cần lưu ý làm sạch và khử trùng, bao gồm hai tay của người thầy thuốc, vùng da giác hơi của người bệnh và các dụng cụ giác hơi, tất cả đều phải được lau sạch hoặc khử trùng quy chuẩn. Trước khi tiến hành thao tác giác hơi, cần kiểm tra kỹ xem miệng ống giác có trơn nhẵn hay có sứt mẻ gì không, tránh làm tổn thương da của người bệnh.
Xét từ góc độ vị trí giác hơi, khi giác hơi cần lựa chọn tư thế phù hợp và những vùng có cơ nhục tương đối đầy đặn. Nếu tư thế không phù hợp, xương cốt gồ ghề nhấp nhô, hoặc nơi có nhiều lông tóc thì ống giác sẽ dễ bị rơi rụng, đều không thích hợp để dùng. Cần căn cứ vào các vị trí khác nhau để lựa chọn dụng cụ có kích cỡ phù hợp. Khi sử dụng ống giác thủy tinh, trước khi thao tác tốt nhất nên dùng tay làm ấm miệng ống giác, đặc biệt là vào mùa đông, để tránh cái lạnh của miệng ống gây khó chịu cho người bệnh, đồng thời có thể gây co cơ và căng cứng cơ.
Xét từ góc độ tư thế của người bệnh, đối với những bệnh nhân đến khám lần đầu, người già yếu, trẻ nhỏ, người có tiền sử dị ứng hoặc tiền sử say kim (vựng châm), đều nên áp dụng tư thế nằm, thông thường chủ yếu là nằm sấp để bộc lộ đầy đủ vùng cần thủ thuật. Nói chung, nếu có điều kiện áp dụng tư thế nằm thì không nên chọn tư thế ngồi, nhằm đề phòng ống giác bị rơi vỡ hoặc xảy ra các phản ứng bất lợi như say giác (vựng quán).
Do đó, từ các góc độ môi trường thủ thuật, khử trùng trước thủ thuật, kiểm tra dụng cụ, vị trí giác hơi cho đến tư thế của người bệnh, đều cần lưu ý những điểm có thể gây khó chịu hoặc đem lại hậu quả bất lợi cho người bệnh.

1.2. Những điều cần lưu ý trong khi giác hơi
1.2.1 Phương pháp giác lửa lướt qua (Thiểm hỏa pháp)
Khi áp dụng thiểm hỏa pháp để giác hơi, bông cồn được thấm lượng alcohol không nên quá nhiều, để tránh lượng cồn thừa nhỏ xuống hoặc chảy ra miệng ống giác. Lưu ý khi châm lửa vào bông cồn phải thực hiện ở khu vực bên ngoài cơ thể người bệnh, tránh việc các sợi bông nhỏ bốc cháy sau đó vô tình rơi xuống làm bỏng người bệnh. Sau khi châm lửa vào bông cồn, đưa lửa vào trong lòng ống giác xoay nhanh vài vòng rồi rút ra, lập tức úp nhanh ống giác vào vị trí cần giác. Động tác xoay trong lòng ống phải nhanh, khi xoay cần nghiêng miệng ống để tránh cồn nhỏ xuống làm bỏng da. Lưu ý trong quá trình thao tác không được đốt nóng miệng ống giác để tránh gây bỏng da. Khi áp dụng thiểm hỏa pháp ở gần vùng đầu mặt, phải để bông cồn đã châm lửa tránh xa đầu mặt nhằm đề phòng bén lửa vào tóc. Phương pháp này tương đối an toàn, không bị hạn chế bởi tư thế nằm hay ngồi, là phương pháp giác hơi được sử dụng phổ biến nhất.

1.2.2 Phương pháp ném lửa vào ống giác (Đầu hỏa pháp)
Khi áp dụng đầu hỏa pháp để giác hơi, người ta đem mảnh giấy dễ cháy hoặc bông cồn 95% châm lửa rồi ném vào trong ống giác, sau đó lập tức úp nhanh ống giác vào vị trí cần giác. Lưu ý ngọn lửa của mảnh giấy hoặc bông cồn được châm phải cháy mạnh, động tác phải nhanh, làm cho miệng ống hơi nghiêng để tránh nguồn lửa rơi xuống làm bỏng da. Phương pháp này do trong lòng ống có vật đang cháy, dễ rơi xuống làm bỏng da, vì vậy thích hợp áp dụng cho việc hút giác ở mặt bên của cơ thể.

1.2.3 Phương pháp dán bông (Thiếp miên pháp)
Phương pháp này tương tự như đầu hỏa pháp, cũng thường được dùng để hút giác ở mặt bên cơ thể. Đồng thời cần lưu ý tránh dùng quá nhiều cồn khiến cồn nhỏ xuống gây bỏng da, và cũng phải phòng ngừa miếng bông đang cháy làm bỏng da.

1.2.4 Phương pháp bắc giá lửa (Giá hỏa pháp)
Khi dùng giá hỏa pháp, việc úp chụp ống giác phải chính xác, lưu ý không được làm lật đổ giá lửa đang cháy.

1.2.5 Phương pháp giác hơi bằng nước (Thủy quán pháp)
Vương Đảo trong tác phẩm Ngoại Đài Bí Yếu có ghi chép: "Lấy ống tre xanh to bằng ba ngón tay, dài khoảng một tấc, một đầu giữ lại đốt tre, đầu không có đốt bào cho mỏng như lưỡi kiếm, nấu ống này sôi vài dạo, nhân lúc còn nóng vớt ống ra ép vào chỗ mực định giác." Đây là ghi chép sớm nhất được biết đến về việc chế tạo ống giác tre và phương pháp hút giác bằng cách nấu ống trong nước thuốc hoặc nước sôi. Phương pháp này đa phần sử dụng ống tre. Ưu điểm của ống tre là dễ tìm nguyên liệu, kinh tế, thực dụng, nhẹ nhàng, thích hợp để nấu với thuốc làm ống giác thuốc. Nhược điểm là không trong suốt, cần phải bảo dưỡng thường xuyên, nghiêm cấm dùng lửa nướng vì dễ làm khô nứt, ngoài ra ống tre có các khe hở nhỏ dễ rò khí nên lực hút không đủ lớn. Khi dùng ống giác nấu nước, cần vẩy sạch nước nóng trong ống để phòng ngừa làm bỏng da người bệnh. Do đó, những người có chướng ngại về cảm giác thì không nên áp dụng ống giác tre.

1.2.6 Phương pháp lưu ống giác (Lưu quán pháp)
Phương pháp này áp dụng cho đại đa số các loại bệnh chứng, là phương pháp thường dùng nhất. Khi áp dụng nhiều ống giác cùng lúc, các ống giác sắp xếp không nên quá sát nhau để tránh việc da bị các ống giác kéo căng lẫn nhau gây ra đau đớn. Thông thường thời gian lưu ống là từ 15 đến 20 phút, trẻ em không nên lưu ống quá lâu. Đối với mục đích bài trừ các tà khí như thấp, hàn, phong, độc cũng như đạt được tác dụng phù trợ chính khí rõ rệt, có thể chủ động lưu ống thời gian dài hơn hoặc tăng cường lực hút để đạt được hiệu quả phát phồng rộp (phát bào).

1.2.7 Phương pháp đẩy ống giác / chạy ống giác (Tẩu quán pháp)
Phương pháp này thích hợp cho các vùng có diện tích lớn, cơ nhục phong phú như vùng lưng, thắt lưng, mông, đùi. Khi tẩu quán, miệng ống giác được sử dụng phải hết sức trơn nhẵn để tránh làm trầy xước da, vì vậy dùng ống giác thủy tinh là thích hợp nhất. Nếu sử dụng phương pháp đốt lửa để hút, thông thường hỏa lực phải nhỏ, ví dụ như dùng mảnh giấy hẹp để mồi lửa, hoặc dùng cồn khoảng 75% để mồi. Nếu sử dụng ống giác hút chân không thì lượng hút khí cũng nên nhỏ hơn so với phương pháp lưu quán. Sau khi ống giác hút vào da thì phải tiến hành đẩy kéo hoặc xoay chuyển ngay lập tức, không được thử xem đã hút chặt chưa rồi mới đẩy, nếu không sẽ khó di chuyển, lực đẩy quá mạnh sẽ làm tổn thương da. Không được đẩy kéo trên các vùng xương gồ lên để phòng tổn thương da hoặc gây rò khí. Tốc độ tẩu quán nên chậm rãi, nhanh quá dễ gây đau, và khoảng cách di chuyển mỗi lần không nên quá dài.

1.2.8 Phương pháp nhấc giật ống giác nhanh (Thiểm quán pháp)
Do phương pháp này tránh được các vết ứ huyết do giác hơi truyền thống hình thành, không ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ, nên thích hợp cho một số vị trí không tiện lưu ống và đối tượng trẻ em. Lưu ý khi sử dụng cùng một ống giác để thiểm quán nhiều lần, nhiệt độ miệng ống sẽ tăng dần lên, cần kịp thời thay ống khác để tránh gây bỏng. Khuyến nghị khi sử dụng thiểm quán pháp nên chuẩn bị hai bộ ống giác cùng quy cách kích cỡ để luân phiên sử dụng khi nhiệt độ quá cao.

1.2.9 Phương pháp chích huyết giác hơi (Chích lạc bạt quán pháp)
Khi ứng dụng chích huyết giác hơi, diện tích chích châm cho chảy máu phải bằng hoặc nhỏ hơn một chút so với đường kính miệng ống giác. Lượng máu chảy ra phải vừa phải, tổng lượng mỗi lần không nên vượt quá 10 mL. Thông thường đa số sử dụng ống giác hút chân không để tiện cho việc thay đổi độ lớn của lực hút bất cứ lúc nào, nhằm kiểm soát lượng máu chảy. Khuyến nghị trên lâm sàng nên sử dụng ống giác thủy tinh để dễ dàng tẩy rửa lượng máu còn sót lại và khử trùng.

1.2.10 Phương pháp châm quán (Châm quán pháp)
Theo nghĩa rộng, các phương pháp châm dùng trong châm quán có thể bao gồm hào châm, điện châm, chỉ châm, da châm (mai hoa châm), tam lăng châm, khiêu trị, hỏa châm, cát trị, châm laser, từ đề châm, v.v. Theo nghĩa hẹp, châm quán pháp chỉ việc phối hợp sử dụng giữa hào châm và liệu pháp giác hơi. Các liệu pháp châm thích hợp đều có thể ứng dụng trước khi giác hơi, sau khi giác hơi hoặc ở khoảng thời gian giữa hai lần giác hơi liên tiếp, trong đó hào châm còn có thể lưu kim rồi giác hơi. Khi ứng dụng châm quán, phải phòng ngừa cơ bắp co rút làm cong kim, cố gắng tránh việc ép kim thẳng đứng vào sâu gây tổn thương. Khi lưu kim giác hơi, nên chọn ống giác cỡ lớn và nên sử dụng ống giác trong suốt. Sau khi tiến kim, độ cao của phần kim còn lại trên bề mặt da phải nhỏ hơn độ sâu của lòng ống giác, do đó cán hào châm nên ngắn để tránh trường hợp khi hút giác ống chạm vào cán kim gây ra tổn thương. Sau khi nhấc ống giác nếu lỗ châm có chảy máu, có thể dùng bông khô tiệt trùng để thấm đi. Ngoài ra, sách Thực dụng Trung y bạt quán học chỉ ra rằng, các vùng dễ xảy ra tràn khí màng phổi như vùng ngực, lưng, cổ thì không nên sử dụng phương pháp này.

1.3. Các bệnh chứng không nên hoặc cấm giác hơi
3.1 Người bệnh có xu hướng xuất huyết hoặc cơ chế đông máu không toàn vẹn nghiêm cấm giác hơi
Trong quá trình giác hơi, áp suất âm trong ống giác làm cho các mao mạch nông bị giãn nở, thậm chí là vỡ ra, máu đi vào khoảng gian bào hình thành nên vết ứ máu. Do đó, người bệnh có xu hướng xuất huyết hoặc cơ chế đông máu bất thường nghiêm cấm giác hơi, ví dụ như bệnh giảm tiểu cầu, bệnh máu trắng (bạch cầu), bệnh purpura dị ứng, bệnh máu khó đông (hemophilia), càng không được chích lạc bạt quán để tránh gây đại xuất huyết. Vì lý do này, các vùng có mạch máu lớn trên bề mặt cơ thể cũng không thích hợp để giác hơi.

3.2 Người bệnh có bệnh lý về phổi không nên giác hơi
Bệnh nhân lao phổi không nên giác hơi, đặc biệt là trong giai đoạn tiến triển. Do khi giác hơi, các mạch máu xung quanh bề mặt cơ thể giãn nở, tuần hoàn máu tăng nhanh sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn lao (vi khuẩn hiếu khí) phát triển, có thể làm ổ bệnh lan rộng, thậm chí kích phát các bệnh biến lao ở các vị trí khác như viêm màng bụng do lao, lao thận, lao xương... Bệnh nhân khí phế thũng nghiêm trọng thì vùng lưng và vùng ngực không nên giác hơi. Bệnh nhân viêm phổi không nên giác hơi, tuy nhiên có báo cáo cho rằng giác hơi có tác dụng điều trị nhất định đối với viêm phổi.

3.3 Người bị bệnh phù thũng hoặc thủy thũng không nên giác hơi
Trong sách Thạch Học Mẫn bạt quán lâm chứng tinh giảng có đề cập, người bị thủy thũng nghiêm trọng không nên giác hơi. Tuy nhiên, liệu pháp giác hơi không phải là không áp dụng được cho tất cả các loại thủy thũng. Đối với triệu chứng phù tay xuất hiện sau phẫu thuật ung thư vú, phương pháp chích lạc bạt quán tại vùng tổn thương lại đem lại hiệu quả điều trị rất tốt.

3.4 Người bệnh có bệnh lý tim mạch không nên giác hơi
Do khi giác hơi, da dưới áp suất âm sẽ co thắt lại, người cao tuổi lại có bệnh lý tim mạch dưới sự kích thích này có thể bị phát tác bệnh tim, đặc biệt là bệnh nhân suy tim thì không nên giác hơi. Tuy nhiên, đối với một số bệnh nhân đau thắt ngực thể mạn tính ổn định thuộc tâm khí hư huyết ứ, có thể chích lạc bạt quán tại các huyệt như Tâm du, Tỳ du để nâng cao hiệu quả điều trị. Ngoài ra, những người mang máy tạo nhịp tim hoặc các vật thể kim loại khác trong người nghiêm cấm sử dụng các dụng cụ giác hơi điện từ.

3.5 Người bệnh huyết áp quá cao cũng nên thận trọng khi dùng hỏa quán, đặc biệt kỵ thủ pháp mạnh
Do giác hơi có thể làm huyết áp tăng cao, đặc biệt là khi sử dụng hỏa quán hoặc các thủ pháp kích thích mạnh thì ảnh hưởng đối với huyết áp càng lớn. Người bệnh huyết áp quá cao nếu không sử dụng hỏa quán hoặc thủ pháp mạnh một cách hợp lý thì có thể gây tổn hại cho huyết áp của người bệnh, thậm chí kế phát các bệnh biến tim mạch.

3.6 Người bị gãy xương mới chấn thương, suy giãn tĩnh mạch nghiêm cấm giác hơi
Tại vị trí gãy xương mới chấn thương, cấu trúc hình thái của xương chưa ổn định, bản thân liệu pháp giác hơi không có tác dụng điều trị đối với việc liền xương, giác hơi tại vùng tổn thương ngược lại sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định của xương gãy, làm chậm quá trình liền xương.

1.4. Các vị trí không nên hoặc cấm giác hơi
4.1 Vùng da bị bệnh và vết thương ngoài da nghiêm cấm giác hơi
Người bị dị ứng da hoặc da mắc các bệnh truyền nhiễm như bệnh ghẻ, bệnh da toàn thân, vùng chấn thương hoặc vết loét đã vỡ nghiêm cấm giác hơi. Từ thời Tây Tấn, tác phẩm Trửu Hậu Bị Cấp Phương của Cát Hồng đã có ghi chép: "Ung thư, bướu, thạch ung, kết cân, tý lệ, đều không được dùng châm giác. Người dùng châm giác hiếm khi không gặp họa." Tuy nhiên, trong cổ tịch cũng có ghi chép về việc dùng giác pháp để điều trị các bệnh lý hóa mủ ở tổ chức mềm, đồng thời đưa ra quy định rõ ràng về chỉ định và chống chỉ định của nó. Sách Thái Bình Thánh Huệ Phương chép: "Phàm là ung thư mọc ở lưng, sưng cao cứng ngắc mủ đặc đỏ tấy thì nên dùng thủy giác; nếu lõm xuống, màu da không đổi, mềm bủng mủ loãng thì không nên dùng thủy giác." Lại chỉ ra rằng: "Nhọt độc mới mọc mà dùng thủy giác thì độc khí nội nhiệt sợ lạnh, bị ép lại sẽ nhập sâu vào tấu lý, càng thêm nguy hại." Nghĩa là chứng sưng đỏ cao lớn thuộc dương chứng, thực chứng thì là chỉ định; ngược lại, ung thư mới mọc hoặc âm chứng, bán âm bán dương chứng thì là cấm kỵ.

4.2 Một số vị trí mang tính dấu hiệu không nên giác hơi, như ngũ quan, tiền hậu nhị âm, núm vú
Các vùng ngũ quan, tiền hậu nhị âm không thích hợp để sử dụng. Cuốn Thạch Học Mẫn bạt quán lâm chứng tinh giảng có đề cập đến quan điểm này. Tuy nhiên, ghi chép sớm nhất về giác pháp là trong Ngũ Thập Nhị Bệnh Phương dùng để xử lý chứng tĩ (trĩ), áp dụng áp suất âm của hỏa quán để hút búi trĩ ra ngoài, sau đó "buộc bằng dây nhỏ, rạch bằng dao" để tiến hành phẫu thuật, phương pháp này tương tự như nguyên lý sử dụng dụng cụ kiểm tra hậu môn hút áp suất âm hiện đại. Vùng núm vú không nên giác hơi, da ở núm vú quá đỗi non nớt, nếu sử dụng liệu pháp giác hơi, lực hút lớn sẽ làm tổn thương da núm vú và gây ra đau đớn dữ dội cho người bệnh, thông thường không nên sử dụng, đặc biệt là phụ nữ trong thai kỳ.

4.3 Trước khi vết giác của lần giác hơi trước tiêu tan hết thì không nên giác hơi lại tại vị trí cũ
Việc vị trí giác hơi xuất hiện quầng đỏ cục bộ hoặc xuất huyết tạo thành vết tử điêu (màu xanh tím) là hiện tượng bình thường, vài ngày sau có thể tự tiêu tan. Nếu vùng cục bộ bị ứ máu nghiêm trọng thì không được lặp lại việc giác hơi tại nơi đó. Nếu do lưu ống quá lâu dẫn đến da nổi mụn nước, trường hợp nhẹ không cần xử lý, mụn nước lớn có thể dùng kim vô trùng chích vỡ để giải phóng dịch bên trong, hoặc dùng bơm tiêm hút dịch ra, rồi dùng thuốc tím (gentian violet) để sát trùng, phòng ngừa nhiễm trùng.

4.4 Người có sẹo, u ác tính cục bộ, da cục bộ đàn hồi kém nghiêm cấm giác hơi
Vùng da có sẹo hoặc đàn hồi kém tương đối yếu ớt, lực hút khi giác hơi lại lớn, khi thực hiện thủ thuật nên cố gắng tránh những vị trí này để không làm tổn thương da cục bộ hoặc khiến vết thương cũ tại vết sẹo tái phát.

4.5 Nơi cơ nhục gầy gò hoặc xương cốt gồ ghề nhấp nhô và nơi có nhiều lông tóc không nên giác hơi
Vị trí thích hợp để giác hơi là những nơi cơ nhục phong phú. Nếu giác hơi ở nơi cơ nhục gầy gò hoặc xương cốt gồ ghề nhấp nhô thì sẽ xuất hiện hiện tượng ống giác không dễ hút bám, thậm chí không thể hút được, ngoài ra còn gây đau đớn cho người bệnh hoặc làm tổn thương bề mặt da. Vùng có nhiều lông tóc cũng không nên giác hơi, việc hút bám ống giác sẽ kéo giật lông tóc gây co kéo da, có thể làm rụng lông tóc hoặc tổn thương da vùng nang lông. Nếu có nhu cầu đặc biệt, sau khi được sự đồng ý của người bệnh, xin hãy bảo người bệnh tự cạo sạch lông tóc cục bộ rồi mới tiến hành liệu pháp giác hơi.

1.5. Các đối tượng không nên hoặc cấm giác hơi
5.1 Người xuất hiện hiện tượng say giác (vựng quán) trong quá trình giác hơi phải lập tức dừng ngay
Trong quá trình giác hơi nếu xuất hiện các triệu chứng như sắc mặt nhợt nhạt, vã mồ hôi lạnh, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp trống ngực, buồn nôn nôn mửa, tứ chi lạnh ngắt, thần hôn ngã lộn... thì đây là chứng vựng quán, phải lập tức dừng ngay việc giác hơi, để người bệnh nằm ngửa phẳng, chọn tư thế đầu thấp chân cao. Trường hợp nhẹ, cho uống nước ấm hoặc nước đường, nghỉ ngơi chốc lát phần lớn có thể đỡ hơn. Trường hợp vựng quán nghiêm trọng có thể dùng một ít bột Ngọa Long Tán hoặc Thông Quan Tán thổi vào trong mũi, sau khi hắt hơi vài lần thông thường có thể hồi phục; cũng có thể bấm hoặc châm các huyệt Thiếu thương, Bách hội, Nhân trung, Nội quan, Dũng tuyền, Túc tam lý, Trung xung..., hoặc cứu ngải các huyệt Bách hội, Khí hải, Quan nguyên, Dũng tuyền... khi cần thiết phải kịp thời đưa đến bệnh viện để cấp cứu. Trên lâm sàng cần lưu ý quan sát, vì những người quá đói, quá mệt, quá khát, ra quá nhiều mồ hôi... rất dễ bị vựng quán, cũng nên cấm giác hơi.

5.2 Trẻ nhỏ dưới 4 tuổi, người già trên 80 tuổi đều không thích hợp để giác hơi
Xét đến đặc điểm sinh lý trĩ âm trĩ dương của trẻ nhỏ, nếu sức tuyên tán của liệu pháp giác hơi quá mức sẽ dễ làm tổn thương chính khí của cơ thể, hơn nữa da trẻ nhỏ non nớt, sự co kéo của ống giác đối với làn da và sự hình thành vết ứ huyết sẽ đem lại cảm giác khó chịu cho trẻ. Nếu có nhu cầu cần thiết phải điều trị bằng giác hơi, cần lưu ý làm tốt công tác điều dưỡng tâm lý trước thủ thuật cho trẻ lớn tuổi hơn, giải thích ý nghĩa của việc điều trị và các hạng mục cần lưu ý, tiến hành an ủi và khích lệ tinh thần, xóa bỏ tâm lý căng thẳng của trẻ để trẻ và phụ huynh có thể tích cực chủ động phối hợp thao tác. Đối với trẻ nhỏ tuổi hơn, nên nhờ phụ huynh hỗ trợ cố định tốt vị trí giác hơi. Ngoài ra, đối với những trẻ có phản ứng da rõ rệt, da mỏng yếu thì nên rút ngắn thời gian lưu ống. Mặt khác, người thể chất hư nhược, khí huyết bất túc cũng không nên giác hơi. Bởi vì trong giác hơi có tác dụng điều trị tương đương với tả pháp, nếu bệnh nhân có thể chất quá đỗi hư nhược hoặc khí huyết bất túc sử dụng liệu pháp giác hơi sẽ khiến người hư càng thêm hư, không đạt được hiệu quả điều trị.

5.3 Người bệnh thần trí không tỉnh táo không nên giác hơi
Bệnh nhân sốt cao, mê sảng, co giật, co quắp hoặc hôn mê không nên sử dụng; đối với bệnh nhân động kinh thì nên sử dụng vào thời kỳ gián đoạn của cơn bệnh. Trong sách Thạch Học Mẫn bạt quán lâm chứng tinh giảng cũng viết rằng, người bị chứng loạn thần kinh mức độ nặng, cuồng bạo bất an, người không hợp tác và người say rượu không nên giác hơi.

5.4 Phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt vùng bụng dưới nên thận trọng, thời kỳ mang thai cấm dùng, các huyệt hoạt huyết ở tứ chi nên thận trọng khi giác
Sách Thạch Học Mẫn bạt quán lâm chứng tinh giảng cũng nhắc đến quan điểm này. Nhưng điều này không phải là tuyệt đối, ngược lại, đối với một số phụ nữ bị đau bụng kinh, giác hơi cũng là một liệu pháp hỗ trợ điều trị đau bụng kinh rất tốt. Nhạc Hồng vận dụng phương pháp nhĩ châm phối hợp chích huyết cộng thêm giác hơi để điều trị đau bụng kinh, chích huyết bằng tam lăng châm tại huyệt Thứ liêu hai bên cộng thêm giác hơi, hiệu quả lâm sàng rất tốt. Phụ nữ trong thời kỳ mang thai vùng bụng dưới, vùng cùng cụt cấm dùng, vì dễ dẫn đến sảy thai. Các huyệt hoạt huyết ở tứ chi nên thận trọng khi giác như Hợp cốc, Tam âm giao, Chí âm, Côn lôn, Kiên tỉnh... nếu tình trạng bệnh cần dùng đến các huyệt vị này, hãy cân nhắc lựa chọn theo tình hình bệnh. Thủ pháp giác hơi cho phụ nữ mang thai nên nhẹ nhàng, êm ái. Do đó, trước khi tiến hành thủ thuật cần hỏi kỹ người bệnh về tiền sử bệnh hiện tại, tiền sử bệnh đã qua, nếu người bệnh vì lý do bệnh lý hoặc nguyên nhân khác không thể tự thuật thì cần hỏi rõ ràng người nhà hoặc người đi cùng rồi mới tiến hành thủ thuật.
1.6. Những điều cần lưu ý khi nhấc ống giác (Pháp khởi quán)
Khi giác hơi không nên lưu ống thời gian quá dài, thông thường thời gian giác hơi nên khống chế trong vòng 15 đến 20 phút để tránh gây nổi mụn nước. Đặc biệt là đối với những người mắc bệnh tiểu đường, nên cố gắng tránh việc nổi mụn nước làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Khi giác hơi tại nhiều vị trí trên vùng lưng, nên nhấc ống theo thứ tự từ trên xuống dưới, việc này có thể phòng ngừa xảy ra các phản ứng bất lợi như đầu váng mắt hoa, buồn nôn nôn mửa.

1.7. Tiểu kết
Đối với liệu pháp giác hơi, các hạng mục cần lưu ý và chống chỉ định nêu trên đều phải tuân theo đặc điểm bệnh chứng tương ứng để lựa chọn dụng cụ giác, thủ pháp giác, vị trí giác và thời gian giác hơi. Tuy nhiên, những điều cấm kỵ của giác pháp không phải là tuyệt đối, đối với một số bệnh chứng, vị trí, đối tượng không nên giác hơi nếu được thực hiện thủ thuật đúng cách vẫn có thể mang lại tác dụng điều trị nhất định và đạt được hiệu quả tốt. Cần tiếp tục tìm tòi nghiên cứu sâu hơn về phạm vi thích ứng cũng như cấm kỵ của giác hơi trong các thư tịch cổ điển, nhằm cung cấp sự hỗ trợ nghiên cứu lý luận và thực nghiệm cho nhu cầu lâm sàng hiện đại, cũng như các nguyên tắc và phương pháp phòng ngừa rủi ro. Tóm lại, liệu pháp giác hơi cần lấy việc biện chứng luận trị theo từng cá thể và thao tác quy chuẩn hóa làm kim chỉ nam, các cấm kỵ cũng như ứng dụng của nó còn đợi được tổng kết thêm để hướng dẫn lâm sàng một cách tốt hơn.

24/06/2026

Mẹo giúp Bé

24/06/2026

Mẹo ở cữ cho chị em

24/06/2026

Bấm huyệt trẻ em

19/06/2026
08/06/2026

Mẹo hay giúp trẻ tập lật lẫy

08/06/2026

Bí quyết cải thiện tiêu hóa, bổ tỳ vị

19/05/2026

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH THƯỜNG:

1.BỆNH VIÊM HỌNG NHẸ:
* Phác đồ Điều trị: xúc họng sát khuẩn + kháng sinh nhóm Betalactame + chống viêm nhẹ + giảm đau ( nếu có) + giảm ho - long đờm dạng siro hoặc viên + Viên ngậm hỗ trợ.

2.BỆNH VIÊM HỌNG NẶNG:
*Phác đồ Điều trị: xúc họng kháng khuẩn + Kháng sinh các nhóm ( betalactam, cephalosporin, Macrolid, Quinolon tùy từng trường hợp nặng, nhẹ) + chống viêm corticoid hoặc viêm dạng men ( tùy từng trường hợp nặng hay nhẹ) + giảm đau hạ sốt ( nếu có) + kháng Histamin + Cắt cơn ho, long đờm+ rửa mũi, xịt mũi + viên ngậm hỗ trợ + thuốc bổ tổng hợp.

3.BỆNH HEN PHẾ QUẢN ( hen suyễn):
*phác đồ điều trị: xúc họng kháng khuẩn + Kháng sinh nặng + chống viêm nặng + giảm ho mạnh + giãn phế quản + thuốc bổ + hạ sốt ( nếu có )

4.BỆNH VIÊM THANH QUẢN:
*Phác đồ điều trị: xúc họng kháng khuẩn + Kháng sinh nặng (Nhóm Quinolon, Macrolid, Cephalosporin hoặc kháng sinh kết hợp) + chống viêm corticoid liều cao + long đờm tiêu đờm + thuốc ho thảo dược hoặc viên ngậm + có thể cho thêm thuốc bổ.

5. BỆNH VIÊM HỌNG HẠT & VIÊM AMIDAN:
*Phác đồ Điều trị: Xúc họng kháng khuẩn + kháng sinh nhóm Quinolon,Betalactam,Macrolid,
cephalosporin hoặc kháng sinh kị khí + chống viêm Corticoid liều cao + kháng Histamin + giảm ho mạnh + ngậm Biseptol hoặc ngậm Dorithricin...v..v..

* TRẺ EM: Xúc họng kháng khuẩn+kháng sinh Betalactam,cephalosporin + chống viêm + giảm ho(nếu có) +giảm đau hạ sốt (nếu có) + an thần (siro dòng Histamin) + oresol bù nước.

6.BỆNH VIÊM PHỔ CẤP TÍNH:
*Phác đồ điều trị: kháng sinh mạnh hoặc kháng sinh kết hợp + chống viêm + giãn phế quản + long đờm + giảm ho nặng + hạ sốt có Codein + thuốc bổ + Oresol bù nước + trà gừng nếu chân tay lạnh.

7. BỆNH QUAI BỊ ( viêm tuyến nước bọt ): Phác đồ điều trị: Kháng sinh + chống viêm + giảm đau + tuần hoàn não + Vitamin B6.

8.BỆNH VIÊM RĂNG LỢI:
*Phác đồ điều trị: Kháng sinh răng + chống viêm + Giảm đau + Rutin C.

9.BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG:
*Phác đồ điều trị: xịt rửa mũi hàng ngày kháng khuẩn + Kháng sinh (nếu có biểu hiện nặng) + Kháng Histamin + thuốc xịt mũi, nhỏ mũi có tác dụng co mạch + Rutin C ( Thuốc bổ tổng hợp, C sủi cam tăng đề kháng...v.v..)

10. BỆNH VIÊM XOANG MŨI:
*Phác đồ điều trị: Xịt rửa mũi kháng khuẩn + kháng sinh nặng + corticoid + kháng histamin + xịt mũi bằng thảo dược hoặc thuốc + long đờm + uống thuốc Vitaman C để tăng đề kháng hoặc thuốc bổ tổng hợp + các thuốc chữa viêm xoang hỗ trợ + giảm đau hạ sốt (nếu có).

11. SỐT VIRUS:
*Phác đồ điều trị: giảm sốt bằng aspirin, Mofen (Ibuprofen) hoặc Efferalgan codein + Oresol (hoặc truyền nước) + vitamin C tăng sức đề kháng + Thymodulin 80mg tăng miễn dịch + cầm tiêu chảy + men tiêu hoá + Acyclovir ( nếu cần ) + giảm ho - long đờm ( nếu bội nhiễm).

12.BỆNH SỞI: Kháng sinh ( nếu bội nhiễm) + Hạ sốt ( nếu có ) + Kháng histamin ( nếu phát ban) + Oresol + Giảm ho-long đờm ( nếu bội nhiễm) + Tăng đề kháng ==> Kiêng gió, nước...v.v...

13.SỐT PHÁT BAN:
Hạ sốt + Oresol+ Kháng H1 + Tăng đề kháng

14. NHIỆT MIỆNG: Kháng sinh ( nếu loét nặng ) + kháng viêm + Bôi nhiệt+ B1, B2, PP, RutinC, Kẽm + giảm đau ( nếu có) + mát gan

15.BỆNH VIÊM ĐAU MẮT ĐỎ & ĐAU MẮT HỘT:
*Phác đồ: Sát khuẩn rửa mắt hàng ngày 0,9% + kháng sinh Quinolon,Cephalosporin, Betalactam, Tetracylin + chống viêm + giảm đau + các thuốc kháng sinh nhỏ mắt + Kháng histamin + bổ mắt + Rutin C

16.BỆNH VIÊM BỜ MI:
kháng sinh + chống viêm phù nề + giảm đau + Nacl 0,9% rửa mắt + Tetracylin (bôi tại chỗ).

17. BỆNH MỌC LẸO Ở MẮT:
kháng sinh + chống viêm phù nề + giảm đau + Nacl 0,9% rửa mắt + Tetracylin (bôi tại chỗ)

18. BỆNH VIÊM TAI: kháng sinh Quinolon hoặc Betalactam, cephalosporin + Corticoid + giảm đau hạ sốt + oxi già rửa tai hút mủ + nhỏ tai bằng các thuốc nhóm Quinolon + Bổ thần kinh (nếu cần)

19. BỆNH RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH:
Các thuốc chống rối loạn tiền đình + tuần hoàn não + Piracetam + bổ thần kinh 3B, Magie B6, B6 + giảm đau.

20. BỆNH ĐAU NỬA ĐẦU: uống thuốc giảm đau nửa đầu + giảm đau thông thường + tuần hoàn não +bổ thần kinh + Piracetam + Magie B6.

21. BỆNH RỐI LOẠN VẬN MẠCH NÃO ( đau dây thần kinh):
Giảm đau + bổ thần kinh + hoạt huyết dưỡng não + tăng oxi lên não (Nootropyl, Piracetam tăng oxi lên não).

22.BỆNH ĐAU ĐẦU DO THAY ĐỔI THỜI TIẾT:
* Điều trị: giảm đau, + bổ thần kinh + hoạt huyết dưỡng não + piracetam + Stugeron ( nếu có kèm hoa mắt nhẹ )

23.BỆNH GIẢM TRÍ NHỚ DO HỌC HỌC HÀNH CĂNG THẲNG HOẶC DO MẤT NGỦ, SUY NGHĨ NHIỀU:
* Điều trị: hoạt huyết dưỡng não + thuốc tăng cường trí nhớ + 3B hoặc Magie B6 + Omega3,

24. BỆNH VỀ XƯƠNG KHỚP GỘP CHUNG 1 PHÁC ĐỒ ( BỆNH VIÊM ĐA KHỚP, THOÁI HOÁ KHỚP, THẤP KHỚP, THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM, ĐAU THẦN KINH TOẠ).

*Phác đồ chung:
Kháng sinh nếu bệnh nặng có dịch bùng nhùng trong ổ khớp (Clidamycin 2v/2l, Lincommycin 4v/2l, penicillin 4v/2l) + Glucosamin + chống viêm NSAID hoặc Corticoid + giãn cơ + 3B ( Neurobion) hoặc
Pregabalin,gabapentin + Vitamin E +Canxi+ Uống giảm đau, dán giảm đau, cao xoa bóp, bôi giảm đau + Thực phẩm chức năng hỗ trợ xương khớp.

25. BỆNH GOUT:
Giảm đau + chống viêm NSAID + Allopurinol hoặc Colchicin giảm acid uric + Glucosamin + Chondroitin + Thực phẩm chức năng hỗ trợ gout + ăn giảm chất đạm.

26. CHẤN THƯƠNG DO VA ĐẬP BẦM TÍM, PHÙ NỀ:
*Điều trị: Giảm đau+ chống viêm Nsaid + các thuốc giảm sưng phù nề, tan máu bầm (Tan huyết PH, Opzen, Huyết giác) + giãn cơ + 3B + Vitamin E.

27. VẾT THƯƠNG CHẢY MÁU-MỤN NHỌT:
*Điều trị: rửa bằng oxi già hoặc Povidone nếu vết thương bẩn ( có thể rắc thuốc đỏ Rifampicin ) băng lại tránh nhiễm trùng ngắn ngày + giảm đau +cầm máu (Transamin 500mg 4v/2l nếu chảy máu nhiều)+ kháng sinh đường uống + chống viêm + B2 + Kẽm...v.v...

28. BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY - TÁ TRÀNG:
*Kháng sinh kết hợp hoặc bộ kid dạ dày nếu có HP + giảm đau co thắt cơ trơn + PPI giảm tiết axit dịch vị + trung hoà Acid dịch vị, bao viêm loét bằng các bột, gel, Bismuth + uống thuốc chống đầy hơi, chướng bụng,khó tiêu Motilium + TPCN hỗ trợ điều trị dạ dày.

29. VIÊM ĐẠI TRÀNG MÃN TĨNH:
Kháng sinh đường ruột (kháng sinh kị khí) + giảm đau cơ trơn + men tiêu hóa + B1 + bổ sung chất sơ + TPCN hỗ trợ điều trị đại tràng.

30. VIÊM ĐẠI TRÀNG CO THẮT:
uống giảm đau cơ trơn+ uống thuốc nhuận tràng + chất sơ + men tiêu hóa + xoa bụng làm mềm phân. (uống nhiều nước, ăn nhiều rau, đi lại vận động nhiều trong ngày)

31.TIÊU CHẢY DO MỌI NGUYÊN NHÂN: kháng sinh đường ruột nếu nhiễm khuẩn + cầm tiêu chảy + men tiêu hóa + Oresol + Kẽm

32. TIÊU CHẢY DO NGỘ ĐỘC THỨC ĂN: Giải độc bằng than hoạt tính hoặc bằng đường glucose + kháng sinh đường ruột + giảm đau co thắt cơ trơn + cầm tiêu chảy + men tiêu hóa + Oresol + Kẽm

33. VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU-VIÊM BÀNG QUANG:
*Phác đồ: Kháng sinh Quinolon + giảm đau co thắt cơ trơn + sát khuẩn đường tiết niệu (Mictableu:Xanh Methylene) + Vitamin C liều cao + râu ngô, bông mã đề lợi tiểu.
* Chú ý: nếu chảy máu nhiều cho uống thuốc cầm máu: Trasamin 500mg 4v/2l

34.VIÊM LỖ HẬU MÔN:
*Phác đồ: kháng sinh kị khí + giảm đau cơ trơn + cầm máu + Vitamin C + men tiêu hóa + ngâm rửa Povidone + bôi kháng sinh tại chỗ viêm hoặc Gentrisone

35. TRĨ NỘI - TRĨ NGOẠI:
*Điều trị: Rửa + bôi Protolog + đặt Protolog + giảm đau + Rutin C + bổ sung chất xơ + nhuận tràng + các thuốc chữa trĩ thảo dược + Daflon (giảm suy tĩnh mạch)
*Các thuốc chữa trĩ bằng thảo dược: Tottri, Daflon: 2viên - 4viên/2 lần

36. NẤM PHẦN PHỤ NỮ GIỚI:
*Điều trị: Uống kháng sinh nếu bội nhiễm + Rửa bằng nước muối TB hoặc Povidone pha loãng + đặt thuốc chống nấm: Canesten, Mycogynax + uống thuốc Ketoconazol 200mg 4v/2l hoặc Fluconazol (vợ 1v, chồng 1v) + bôi thuốc chống nấm.

37.NẤM NAM GIỚI:
Rửa muối TB hoặc Povidone pha loãng+bôi các thuốc chữa nấm như:
Nystatin, Canesten, Utracom, Ketoconazol, Nizoral, Tomax + uống các thuốc Ketoconazol hoặc Fluconazol

38. VIÊM CỔ TỬ CUNG, VIÊM LỘ TUYẾN,VIÊM NHIỄM PHẦN PHỤ: *Rửa bằng các thuốc rửa vệ sinh + Đặt phụ khoa ( đã quan hệ ) + uống kháng sinh + chống viêm nếu bội nhiễm + giảm đau co thắt cơ trơn + TPCN hỗ trợ ( Trinh nữ hoàng cung...v.v...) + Tăng đề kháng.

39. VIÊM ÂM ĐẠO:
Sát khuẩn sáng, tối + Đặt phụ khoa ( đã quan hệ ) + uống kháng sinh + Nếu chưa quan hệ uống kháng sinh + chống viêm + bôi ngứa hoặc uống thuốc dị ứng + tăng đề kháng.

40. NẤM ÂM ĐẠO:
Sát khuẩn + Đặt + Bôi + kháng Histamin + uống kháng nấm + chống viêm + Kháng sinh ( nếu cần thiết ).

41. RỐI LOẠN KINH NGUYỆT:
°Cao Ích Mẫu ( dạng Nước, Viên)
°Phụ Huyết Khang
°Các viên tránh thai hàng ngày.
° Vitamin E + SẮT ( giúp tái tạo lọc máu cho các tháng tiếp theo ).

42. PHỤ NỮ RONG KINH:
Orgametril + Sắt + Rutin C +Transamin + Điều hòa kinh nguyệt + vitamin E

43.BỆNH LẬU - GIANG MAI:
*Triệu chứng: Có mủ đặc quánh chảy ra, đau buốt, sưng đỏ, sốt, mọc mụn lốm đốm trên da lở loét.

*Điều trị: Kháng sinh mạnh (nhóm Quinolon)+ chống viêm Corticoid + Giảm đau,hạ sốt + rửa Povidone + bôi thuốc ULTRACOMB (10 ngày liên tục) + Tăng hệ miễn dịch.

44. BỆNH VIÊM CẦU THẬN:
Kháng sinh kỵ khí, Quinolon + chống viêm Corticoid + giảm đau co thắt cơ trơn + Transamin + bông mã đề hoặc thuốc cầm máu + hoạt huyết dưỡng não ( Ù tai ) + 3B + Vitamin C liều cao + bổ thận + giảm đau thông thường.

45. BỆNH VIÊM GAN, SUY GIẢM CHỨC NĂNG GAN DO BIA,RƯỢU:
Viên giải rượu + Uống thuốc giảm đau cơ trơn+ các thuốc bổ gan + các thuốc thanh nhiệt giải độc + 3B + kháng Histamin ngắn ngày.

46. DỊ ỨNG DO MỌI NGUYÊN NHÂN
Kháng Histamin + Kháng viêm corticoid ( nếu cần ) + vitamin C + thanh nhiệt tiêu độc,mát gan + Bôi ngoài da...

47. BỆNH THỦY ĐẬU:
Bôi xanh Methylen nếu bội nhiễm + Acyclovir bôi trong trường hợp mụn nước chưa vỡ + uống Acyclovir 200-400-800mg + nếu sưng viêm tấy đỏ uống thêm kháng sinh + chống viêm + B2 + kháng Histamin chống ngứa + hạ sốt nếu bị sốt + vitamin C tăng đề kháng

48.BỆNH ZONA THẦN KINH (HERPES): Bôi hồ nước nếu mụn chưa bị vỡ, chảy nước mủ viêm loét, hoặc có thể bôi cách giờ bằng Acyclovir + uống Acyclovir 200mg 8v/2l, 400mg 4v/2l, 800mg 2v/2l + Vitamin C + B2 + kháng sinh + chống viêm (nếu bị bội nhiễm) + kháng histamin + giảm đau (nếu có)

49.KIẾN CẮN, ONG ĐỐT:
Sát khuẩn + Kháng sinh+Bôi thuốc có thành phần Corticoid + kháng Histamin + giảm đau + chống viêm corticoid + Vitamin C + thanh nhiệt tiêu độc,mát gan

50. BỆNH NẤM - HẮC LÀO:
Bôi thuốc kháng nấm + uống thuốc kháng nấm..v..v...

51. MỤN TRỨNG CÁ, MỤN BỌC:
*Điều trị: Sữa rửa mặt Lalisse control + Kháng sinh + chống viêm dạng men + kháng histamin + Biotin + L-cystine + Acnotin 20 + Bổ gan + vitamin C + vitamin E + Bôi mụn chứa thành phần Clindamycin ,Erythromycin, tretinoin...v.vv.. + uống nhiều nước trong ngày.

*Thời gian:
Tháng 1: Uống đầy đủ
Tháng 2: Uống Biotin, LCystine, bổ gan, thanh nhiệt tiêu độc.

52. ĐIỀU TRỊ BỎNG
Xịt panthenol + Silvirin bôi bỏng + kháng sinh + kháng viêm + kháng histamin + giảm đau + dầu gấc + Vitamin C , B2...v..v...

54. NẤM DA ĐẦU:
Bôi Dibetalic + Uống Ketoconazol + Gội Nizozal shampoo, Selsun...v..v..

55. Chàm, dị ứng, hăm ,nẻ ở trẻ sơ sinh: bôi kem em bé, bepanthen, skinbibi, phenergan...v.v...+ kết hợp uống kháng Histamin + chống viêm nếu cần + siro mát gan

56. BỆNH TIÊU CHẢY:
*Người lớn: kháng sinh đường ruột nếu nhiễm khuẩn+ berberin ( nếu đi ngoài trên 3 lần dùng Loperamid) + men tiêu hoá + Oresol + giảm đau cơ trơn + Thuốc Bổ kẽm,3B...v.v.. nếu mệt mỏi

*Trẻ em: Hidrasec,Smecta + men vi sinh hoặc tiêu hoá + oresol + hạ sốt ( nếu có sốt ) + kẽm ...v.v...

57. BỆNH TÁO BÓN:
Sorbitol, bisacodyl + chất sơ + men tiêu hoá + Oresol...v.v..

Address


Telephone

+84946303107

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đông Y Cổ Truyền Trường Minh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Đông Y Cổ Truyền Trường Minh:

Shortcuts

  • Want your practice to be the top-listed Clinic?

Share