Phòng trị liệu tâm lý lâm sàng - ThS Tâm lý học Nguyễn Thị Thu Hà

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Phòng trị liệu tâm lý lâm sàng - ThS Tâm lý học Nguyễn Thị Thu Hà

Phòng trị liệu tâm lý lâm sàng - ThS Tâm lý học Nguyễn Thị Thu Hà Chuyên gia tư vấn đường dây tư vấn trẻ em quốc gia 111 - Bộ LĐTB - XH
Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và hỗ trợ tâm lý người sử dụng chất.

Viện trưởng Viên nghiên cứu và hỗ trợ tâm lý cộng đồng
Giám đốc Phòng trị liệu tâm lý lâm sàng
ThS chuyên ngành TLH

RỐI LOẠN HOẢNG SỢ     Đặc điểm lâm sàngRối loạn hoảng sợ là những cơn tái diễn lo âu trầm trọng, không khu trú vào bất k...
14/09/2026

RỐI LOẠN HOẢNG SỢ
Đặc điểm lâm sàng
Rối loạn hoảng sợ là những cơn tái diễn lo âu trầm trọng, không khu trú vào bất kỳ hoàn cảnh nào hoặc tình huống đặc biệt nào và không lường trước được. Các triệu chứng thường bắt đầu đột ngột như: đánh trống ngực, đau ngực, cảm giác bị choáng, chóng mặt và cảm giác không thực (giải thể nhân cách hoặc tri giác sai thực tại). Lúc nào cũng có mối đe doạ sợ thứ phát như sợ chết, sợ bị bệnh và sợ mất tự chủ. Các cơn chỉ kéo dài vài phút với tần số rất thay đổi.
Trong hoảng sợ, bệnh nhân thấy sợ hãi, các triệu chứng thần kinh thực vật tăng lên và bệnh nhân vội vã thoát ra khỏi hoàn cảnh. Thường bệnh nhân né tránh không để cho hoàn cảnh đó lặp lại. Cơn hoảng sợ thường tiếp theo sau một nỗi lo sợ dai dẳng là sẽ có một cơn khác.
Chẩn đoán rối loạn hoảng sợ:
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10F (mã số 41.0):
Để chẩn đoán quyết định các cơn lo âu thần kinh thực vật trầm trọng xảy ra trong thời gian khoảng một tháng:
a/ Trong hoàn cảnh không có nguy hiểm về mặt khách quan.
b/ Không khu trú vào hoàn cảnh được biết trước và không lường trước được.
c/ Giữa các cơn bệnh nhân thoát khỏi một cách tương đối các triệu chứng lo âu (mặc dù lo âu đi trước là phổ biến).
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-5 (mã số 300.01):
A. Tái diễn các cơn hoảng sợ một cách đột ngột. Cơn hoảng sợ biểu hiện bằng sự sợ hãi hoặc mạnh mẽ xuất hiện bất ngờ đạt đến cường độ đỉnh trong vòng vài phút, trong thời gian đó có 4 (hoặc nhiều hơn) các triệu chứng sau:
Lưu ý: Sự xuất hiện đột ngột của các triệu chứng có thể xảy ra từ một trạng thái bình tĩnh hoặc lo âu
1. Mạch nhanh, Đánh trống ngực.
2. Vã mồ hôi.
3. Run hoặc lắc.
4. Cảm giác khó thở hoặc thở nông.
5. Cảm giác nghẹt thở( Thiếu oxy).
6. Đau hoặc khó chịu ở ngực.
7. Buồn nôn hoặc đau bụng.
8. Cảm giác chóng mặt, mất thăng bằng hoặc ngất.
9. Lạnh cóng hoặc nóng bừng
10. Dị cảm (tê bì hoặc ngứa).
11.Giải thể thực tế hoặc giải thể nhân cách.
12. Sợ mất kiểm soát hoặc phát điên.
13. Sợ chết.
Lưu ý: Các triệu chứng mang yếu tố văn hóa (Ví dụ: ù tai, đau cổ, đau đầu, la hét ko kiểm soát, khóc) có thể được nhận biết. Các triệu chứng này không nên được tính là 1 trong 4 triệu chứng cần thiết (để chẩn đoán).
B. Có ít nhất 01 cơn hoảng sợ trong vòng 01 tháng với 01 (hoặc nhiều hơn) trong 2 các biểu hiện sau:
1. Lo một cách dai dẳng sợ tái phát các cơn hoảng sợ tiếp theo hoặc hậu quả của nó (ví dụ: mất kiểm soát, đau tim hoặc phát điên).
2. Có sự thay đổi rõ ràng, theo hướng kém thích ứng, hành vi liên quan đến cơn hoảng sợ (ví dụ: hành vi né tránh các cơn hoảng sợ như tránh tập thể dục hay tránh tình huống không quen thuộc).
C. Rối loạn không phải do tác động sinh lý của một chất (ví dụ: lạm dụng ma túy hoặc một thuốc) hoặc bệnh lý cơ thể khác (ví dụ: cường giáp, bệnh lý tim phổi).
D. Rối loạn không phải là một bệnh tâm thần khác gây nên (ví dụ: cơn hoảng sợ không xảy ra trong tình huống sợ xã hội như trong rối loạn ám ảnh sợ xã hội; trong đáp ứng với đối tượng ám ảnh sợ ranh giới hoặc tính huống như trong ám ảnh sợ biệt định; trong đáp ứng với ám ảnh như rối loạn ám ảnh cưỡng bức; trong đáp ứng với hồi tưởng về hoàn cảnh chấn thương như trong rối loạn stress sau sang chấn; hoặc đáp ứng với sự chia cắt khi bị tách khỏi người thân trong rối loạn lo âu bị chia cắt).
(ST)

ÁM ẢNH SỢ XÃ HỘI ( Lo  âu xã hội)    Đặc điểm lâm sàngÁm ảnh sợ xã hội thường bắt đầu ở tuổi thanh thiếu niên, biểu hiện...
11/09/2026

ÁM ẢNH SỢ XÃ HỘI ( Lo âu xã hội)
Đặc điểm lâm sàng
Ám ảnh sợ xã hội thường bắt đầu ở tuổi thanh thiếu niên, biểu hiện sợ người khác nhìn mình chăm chú ở một nhóm người dẫn đến né tránh các hoàn cảnh xã hội. Ám ảnh sợ xã hội phổ biến đều nhau ở nam giới và nữ giới. Ám ảnh có thể kín đáo như sợ ăn uống ở nơi công cộng hoặc sợ nói trước công chúng hoặc sợ gặp người khác giới bao gồm mọi hoàn cảnh xã hội.
Bệnh nhân có ám ảnh sợ xã hội rất có thể sẽ khó hoà nhập xã hội và có ảnh hưởng nặng nề đến nghề nghiệp.
Chẩn đoán ám ảnh sợ xã hội:
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10F (mã số F40.1):
Để chẩn đoán quyết định, tất cả các tiêu chuẩn sau đây cần phải đầy đủ:
a/ Các triệu chứng tâm lý, hành vi hoặc thần kinh thực vật phải là những biểu hiện nguyên phát của lo âu và không phải là thứ phát sau các triệu chứng như hoang tưởng hoặc ý nghĩ ám ảnh.
b/ Lo âu phải khu trú hay chiếm ưu thế ở các hoàn cảnh xã hội đặc biệt.
c/ Né tránh hoàn cảnh gây ám ảnh sợ phải là nét nổi bật.
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-5 (mã số 300.23)
A. Sợ hãi hay lo âu với cường độ mạnh về một hoặc nhiều tình huống xã hội mà trong đó BN bộc lộ với người khác sự sợ hãi. Ví dụ, tương tác xã hội ( như một cuộc trò chuyện, gặp gỡ những người không quen), bị quan sát (như ăn hay uống), và thực hiện trước những người khác (ví dụ, phát biểu nơi đông người).
Lưu ý: Ở trẻ em, sự lo lắng phải xảy ra trong các tình huống tương đương và không chỉ trong tương tác với người lớn.
B. Bệnh nhân luôn lo ngại rằng những hành động mà họ sẽ thực hiên hay sự biểu hiện triệu chứng lo âu sẽ bị đánh giá tiêu cực (ví dụ, sẽ là nhục nhã hay xấu hổ; sẽ dẫn đến sự từ chối hoặc xúc phạm người khác).
C. Các tình huống xã hội hầu như đều gây sợ hãi hay lo âu.
Lưu ý: Ở trẻ em, nỗi sợ hãi hay lo âu có thể được thể hiện bằng cách khóc, ăn vạ, bất động, bám, thu hẹp lại, hoặc không nói chuyện trong các tình huống xã hội.
D. Các tình huống xã hội gây sợ hãi bị né tránh hoặc chịu đựng với lo âu và sợ hãi mãnh liệt.
E. Sợ hãi hay lo âu không tương xứng với mối đe dọa thực tế gây ra bởi tình huống và với bối cảnh văn hóa xã hội.
F. Sự sợ hãi, lo âu, hoặc né tránh là dai dẳng, thường kéo dài trong 6 tháng hoặc hơn.
G. Sự sợ hãi, lo âu, hoặc né tránh gây ra đau khổ hoặc gây suy giảm chức năng xã hội, nghề nghiệp, hoặc chức năng quan trọng khác.
H. Sợ hãi, lo âu, hoặc né tránh là không phải do tác dụng sinh lý của một chất (ví dụ, Nghiện ma túy, một thuốc) hoặc một bệnh khác.
I. Sợ hãi, lo âu, hoặc né tránh không phải là triệu chứng của một rối loạn tâm thần, như rối loạn hoảng sợ, rối loạn dạng cơ thể, hoặc rối loạn tự kỷ
J. Nếu là một bệnh khác (ví dụ như bệnh Parkinson, bệnh béo phì, biến dạng từ bỏng hoặc chấn thương) thì sợ hãi, lo âu, hoặc né tránh là rõ ràng không liên quan hoặc là quá mức.
A. Sợ hãi hoặc lo âu về một đối tượng hoặc tình huống đặc biệt (ví dụ: đi máy bay, sợ độ cao, sợ động vật, sợ tiêm thuốc, nhìn thấy máu)
Lưu ý: ở trẻ em, sợ hãi hoặc lo âu có thể biểu hiện bằng khóc, cáu kỉnh, bất động, giữ chặt vật gì hoặc bám vào ai đó.
B. Các đối tượng hoặc tình huống gây ám ảnh sợ hầu hết luôn kích thích gây sợ hãi và lo âu ngay lập tức.
C. Các đối tượng hoặc tình huống gây ám ảnh sợ gây ra né tránh hoặc chịu đựng với sự sợ hãi hoặc lo âu mạnh mẽ.
D. Sợ hãi và lo âu không tương xứng với sự nguy hiểm thực sự của đối tượng hoặc tình huống gây ám ảnh sợ và bối cảnh văn hóa xã hội.
E. Sự sợ hãi, lo âu, né tránh dai dẳng, kéo dài ít nhất 6 tháng.
F. Sự sợ hãi, lo âu, né tránh dai dẳng gây đau khổ hoặc suy giảm rõ rệt chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọngkhác.
G. Rối loạn không do rối loạn tâm thần khác bao gồm các triệu chứng sợ hãi, lo âu, né tránh các tình huống liên quan đến các các triệu chứng giống RL hoảng sợ hoặc các triệu chứng mất khả năng (như trong ám ảnh sợ khoảng trống); đối tượng và tình huống liên quan đến ám ảnh (như trong rối loạn ám ảnh cưỡng bức); nhắc lại tình huống sang chất (như trong rối loạn stress sau sang chấn); ra khỏi nhà hoặc tách khỏi người thân (như trong rối loạn lo âu bị chia cắt); hoặc các tình huống xã hội (như trong rối loạn lo âu xã hội).
(ST)
#
#
#
#
#

RỐI LOẠN LO ÂU (tiếp..)CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA RỐI LOẠN LO ÂURối loạn lo âu biểu hiện qua nhiều triệu chứng khác nhau, tùy t...
09/09/2026

RỐI LOẠN LO ÂU (tiếp..)
CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA RỐI LOẠN LO ÂU

Rối loạn lo âu biểu hiện qua nhiều triệu chứng khác nhau, tùy thuộc vào loại rối loạn mà bệnh nhân mắc phải. Tuy nhiên, có một số dấu hiệu phổ biến như lo lắng quá mức, cảm giác sợ hãi kéo dài, và khó kiểm soát suy nghĩ.
• Lo lắng thái quá: Lo âu về các sự kiện, hoạt động thường ngày mà người khác cho là bình thường.
• Sợ hãi vô lý: Sợ hãi một cách phi lý đối với các tình huống hoặc đối tượng vô hại, như sợ đám đông, sợ độ cao.
• Rối loạn giấc ngủ: Khó ngủ, mất ngủ, giấc ngủ bị gián đoạn, hoặc cảm thấy mệt mỏi sau khi thức dậy.
• Hồi tưởng: Tái diễn các sự kiện căng thẳng trong tâm trí, đôi khi dẫn đến nỗi ám ảnh.
• Căng thẳng cơ bắp: Tình trạng căng cứng cơ thường xuyên, đặc biệt ở vai, cổ, và lưng.
• Vấn đề về hô hấp: Thở nhanh, khó thở, và cảm giác bị ép chặt ở ngực.
• Khó tập trung: Khả năng tập trung suy giảm, khó hoàn thành công việc do lo lắng chiếm lĩnh suy nghĩ.
• Ám ảnh và nghi thức: Các hành vi lặp đi lặp lại như rửa tay nhiều lần hoặc kiểm tra khóa cửa.
(Tổng hợp)

CĂN NGUYÊN CỦA RỐI LOẠN LO ÂU ( tiếp)Rối loạn lo âu có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân và yếu tố nguy cơ khác nhau. S...
08/09/2026

CĂN NGUYÊN CỦA RỐI LOẠN LO ÂU ( tiếp)
Rối loạn lo âu có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân và yếu tố nguy cơ khác nhau. Sau đây là một vài căn nguyên phổ biến
1. Yếu tố di truyền: Rối loạn lo âu có thể có mối liên hệ với yếu tố di truyền trong gia đình. Nếu trong gia đình có người mắc các bệnh tâm thần như lo âu hoặc trầm cảm, thì khả năng các thành viên khác mắc rối loạn lo âu sẽ cao hơn.
2. Sự mất cân bằng hóa học trong não: Các nghiên cứu đã chỉ ra sự mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin, dopamine và norepinephrine có thể dẫn đến các triệu chứng lo âu. Những chất này có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh tâm trạng và cảm xúc, sự mất cân bằng của chúng có thể làm gia tăng cảm giác lo lắng.
3. Các yếu tố môi trường và sang chấn tâm lý: Các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống như mất mát người thân, tai nạn nghiêm trọng, thất bại trong công việc, dịch bệnh hoặc những biến cố như ly hôn, lạm dụng tâm lý, bị bạo hành… có thể là tác nhân kích thích lo âu. Ngoài ra, môi trường sống đầy áp lực và căng thẳng lâu dài cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
4. Tác động của chất kích thích: việc sử dụng/nghiện các chất gây nghiện như rượu, caffeine, ni****ne hoặc ma túy có thể làm trầm trọng hơn các triệu chứng lo âu. Những chất này không chỉ ảnh hưởng đến hệ thần kinh mà còn khiến cơ thể dễ rơi vào trạng thái căng thẳng và lo lắng quá mức.
5. Các vấn đề sức khỏe tâm thần khác: Rối loạn lo âu có thể xuất hiện cùng với các bệnh lý tâm thần khác như trầm cảm, rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) hoặc rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), làm tăng mức độ lo âu và khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc.

RỐI LOẠN LO ÂURối loạn lo âu được đặc trưng bởi nỗi sợ hãi và lo lắng dai dẳng và quá mức cũng như những thay đổi rối lo...
07/09/2026

RỐI LOẠN LO ÂU
Rối loạn lo âu được đặc trưng bởi nỗi sợ hãi và lo lắng dai dẳng và quá mức cũng như những thay đổi rối loạn chức năng hành vi mà bệnh nhân có thể sử dụng để giảm thiểu những cảm giác này. Các loại rối loạn lo âu được phân biệt với nhau dựa trên các đối tượng hoặc tình huống cụ thể gây ra nỗi sợ hãi, lo lắng và những thay đổi hành vi liên quan.
Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, ấn bản thứ 5, (DSM-5-TR) liệt kê các chứng rối loạn lo âu khác nhau theo thứ tự độ tuổi khởi phát điển hình gồm:
• Rối loạn lo âu chia ly
• Câm nín chọn lọc
• Nỗi ám ảnh cụ thể (động vật, môi trường tự nhiên, vết thương do tiêm máu, tình huống)
• Rối loạn lo âu xã hội
• Rối loạn hoảng sợ
• Sợ khoảng trống
• Rối loạn lo âu lan tỏa
• Rối loạn lo âu do chất kích thích/thuốc
• Lo lắng do một tình trạng bệnh lý khác
• Rối loạn lo âu cụ thể khác (áp dụng khi bệnh nhân có các triệu chứng đáng kể nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn về bất kỳ rối loạn lo âu cụ thể nào)
#
#
#
âu #
lắng #
#

CAI NGHIỆN CỜ BẠC NHƯ THẾ NÀO?Nghiện cờ bạc (Gambling Disorder) – được coi là cờ bạc bệnh lý là rối loạn nghiện không li...
30/07/2025

CAI NGHIỆN CỜ BẠC NHƯ THẾ NÀO?
Nghiện cờ bạc (Gambling Disorder) – được coi là cờ bạc bệnh lý là rối loạn nghiện không liên quan đến chất. Đặc trưng của rối loạn này là sự mất kiểm soát với việc chơi cờ bạc, quá bận tâm hoặc tìm mọi cách có tiền để chơi cờ bạc và tiếp tục hành vi chơi cờ bạc mà bất chấp các hậu quả do việc chơi cờ bạc gây ra.
Tác hại của việc nghiện cờ bạc
- Mất các mối quan hệ
- Gặp những rắc rối về tài chính (phá sản, nợ nần…)
- Gặp vấn đề với pháp luật và có thể đi tù
- Hiệu quả làm việc suy giảm
- Sức khỏe bị ảnh hưởng
- Có hành vi/ ý định tự tử hoặc tự tử
Điều trị chứng nghiện cờ bạc
Việc điều trị này hầu hết sẽ gặp khó khăn bởi những người nghiện cờ bạc phải mất một thời gian rất dài để nhận ra “họ thật sự gặp vấn đề với việc chơi cờ bạc, và họ cần được điều trị để cai cờ bạc”. Việc cai nghiện này chỉ có thể được thực hiện khi người nghiện cờ bạc chủ động/ tự nguyện tham gia tiến trình cai nghiện.
Việc điều trị chứng nghiện cờ bạc cần kết hợp các phương pháp sau:
- Trị liệu tâm lý
- Sử dụng thuốc
- Phối hợp nhóm tự giúp đỡ.
#
#
#

NGHIỆN CỜ BẠC CÓ PHẢI LÀ BỆNH KHÔNG? Nghiện cờ bạc (Gambling Disorder) – được coi là cờ bạc bệnh lý là rối loạn nghiện k...
25/07/2025

NGHIỆN CỜ BẠC CÓ PHẢI LÀ BỆNH KHÔNG?
Nghiện cờ bạc (Gambling Disorder) – được coi là cờ bạc bệnh lý là rối loạn nghiện không liên quan đến chất. Đặc trưng của rối loạn này là sự mất kiểm soát với việc chơi cờ bạc, quá bận tâm hoặc tìm mọi cách có tiền để chơi cờ bạc và tiếp tục hành vi chơi cờ bạc mà bất chấp các hậu quả do việc chơi cờ bạc gây ra.
Theo Cẩm nang chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần (DSM- 5) hành vi cờ bạc có vấn đề dai dẳng và tái diễn dẫn đến suy giảm hoặc đau khổ đáng kể được chẩn đoán khi cá nhân có 4 ( hoặc nhiều hơn) dấu hiệu sau đây trong khoảng thời gian 12 tháng:
1. Cần đánh bạc với số tiền ngày càng tăng để đạt cảm giác phấn khích như mong muốn.
2. Bồn chồn hoặc cáu kỉnh khi cố gắng giảm bớt hoặc ngừng đánh bạc.
3. Đã có nhiều lần nỗ lực kiểm soát, cắt giảm hoặc ngừng cờ bạc nhưng không thành công
4. Thường bận tâm đến cờ bạc (thường xuyên suy nghĩ hay hồi tưởng lại trải nghiệm đánh bạc trong quá khứ, hay lên kế hoạch cho hành động may rủi tiếp theo, nghĩ cách kiếm tiền để đánh bạc).
5. Thường đánh bạc khi cảm thấy khổ đau ( bất lực, tội lỗi, chán nản, lo lắng)
6. Sau khi thua tiền cờ bạc thường quay lại vào ngày khác để lấy lại vốn (tìm mọi cách để gỡ lại số tiền đã bị thua).
7. Nói dối để che giấu mức độ tham gia cờ bạc
8. Đã từng gặp nguy hiểm hoạc mất đi một mối quan hệ, công việc, cơ hội học tập hay nghề nghiệp quan trọng vì cờ bạc.
9. Dựa vào người khác để cung cấp tiền nhằm giải quyết tình trạng tài chính tuyệt vọng do cờ bạc gây ra.
#
#
#

VÌ SAO CHÚNG TA CẦN CÓ TÍNH KỶ LUẬT? Tình kỷ luật là một trong những đức tính quan trọng và cần thiết của con người tron...
23/07/2025

VÌ SAO CHÚNG TA CẦN CÓ TÍNH KỶ LUẬT?
Tình kỷ luật là một trong những đức tính quan trọng và cần thiết của con người trong nhiều khía cạnh như học tập, công việc, tăng cường sức khỏe tinh thần – sức khỏe thể chất. Dù hiểu được tầm quan trọng của tính kỷ luật nhưng việc rèn luyện lại chưa được chú trọng
Tính kỷ luật là khả năng tự kiểm soát hành vi, bám sát kế hoạch đã đặt ra để đạt mục tiêu dài hạn dù gặp khó khăn hay đối mặt với những thử thách.
Lợi ích của tính kỷ luật đối với cá nhân:
• Giảm lo lắng: Khi bạn kiểm soát được quá trình mình hành động và làm việc, bạn sẽ ít cảm thấy ít trì trệ hơn, cảm giác lo lắng về công việc cũng từ đó mà giảm bớt.
• Tăng khả năng hoàn thành mục tiêu dài hạn: Có kỷ luật đồng nghĩa với việc giảm đi sự xao lãng xung quanh, bạn sẽ dễ dàng tập trung và gặt hái được kết quả tốt.
• Cảm thấy hạnh phúc hơn: Hiển nhiên, bạn sẽ hạnh phúc hơn khi cảm thấy chính mình đang tiến bộ trên con đường đạt hướng tới mục tiêu đề ra. Kỷ luật tự giác là một yếu tố quan trọng dẫn tới điều này.
• Bạn trở nên kiên cường hơn: Khi tính tự giác tăng lên, khả năng chống lại cám dỗ xung quanh của bạn cũng vì thế mà tăng theo. Điều này sẽ khiến bạn trở nên kiên cường hơn khi phải thích nghi và làm việc trong các hoàn cảnh khác nhau.
Rèn luyện tính kỷ luật như thế nào?
1. Lập kế hoạch
2. Đặt mục tiêu rõ ràng
3. Hoàn thành từng mục tiêu nhỏ tiến tới hoàn thành mục tiêu chung
4. Sử dụng công nghệ để nhắc nhở bản thân
5. Kiên quyết thực hiện theo từng bước kế hoạch đã đặt ra
6. Luôn nhắc nhở bản thân vì sao mình phải đạt được mục tiêu này
7. Luôn rà soát và kiểm tra lại các bước triển khai để đảm bảo đang thực hiện đúng kế hoạch (về trình tự, về thời gian,….)
#
#
#
#

Phân biệt Lòng trắc ẩn tự thân và Tự luyếnLòng trắc ẩn tự thân (Self-Compassion) và Tự luyến (Narcissism) đều liên quan ...
09/07/2025

Phân biệt Lòng trắc ẩn tự thân và Tự luyến
Lòng trắc ẩn tự thân (Self-Compassion) và Tự luyến (Narcissism) đều liên quan đến cách một người nhìn nhận và đối xử với bản thân, nhưng bản chất của chúng hoàn toàn khác nhau. Lòng trắc ẩn tự thân là sự chấp nhận bản thân với thái độ nhân ái, tử tế, trong khi tự luyến lại liên quan đến sự đề cao bản thân quá mức và nhu cầu được ngưỡng mộ.
Lòng trắc ẩn tự thân được hiểu là khả năng đối xử tốt với chính mình khi gặp khó khăn, thất bại hoặc thiếu sót. Theo Kristin Neff (2003), lòng trắc ẩn tự thân bao gồm ba yếu tố chính: lòng tốt với bản thân, nhận thức về tính nhân loại chung và chánh niệm.
Người có lòng trắc ẩn tự thân không tự trách móc hay phán xét bản thân quá mức khi mắc sai lầm, mà thay vào đó, họ thừa nhận rằng những khó khăn và thất bại là một phần tự nhiên của cuộc sống. Điều này giúp họ duy trì sự ổn định cảm xúc và khả năng phục hồi tinh thần tốt hơn.
Ngược lại, tự luyến là đặc điểm tính cách gắn liền với sự tự đề cao, luôn mong muốn được người khác công nhận và ngưỡng mộ. Theo Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association, 2013), người có xu hướng tự luyến thường có cái tôi lớn, thích khoe khoang, thiếu đồng cảm với người khác và dễ phản ứng tiêu cực khi bị chỉ trích.
Họ thường đánh giá bản thân cao hơn thực tế và có xu hướng coi mình vượt trội hơn người khác. Đặc biệt, khi gặp thất bại, người tự luyến có thể trở nên tức giận, tìm cách đổ lỗi hoặc thậm chí hạ thấp người khác để duy trì cảm giác ưu việt của mình.
Một điểm khác biệt quan trọng giữa hai khái niệm này là sự ổn định của cái tôi. Lòng trắc ẩn tự thân mang lại sự ổn định nội tâm vì nó không phụ thuộc vào thành công hay sự công nhận từ bên ngoài. Người có lòng trắc ẩn tự thân chấp nhận cả điểm mạnh lẫn điểm yếu của mình, không cần phải tỏ ra hơn người hay che giấu khuyết điểm để cảm thấy bản thân có giá trị.
Ngược lại, tự luyến thường đi kèm với sự mong manh của cái tôi, khiến một người trở nên nhạy cảm với lời chỉ trích hoặc thất bại. Vì cái tôi của người tự luyến phụ thuộc vào sự tán dương từ bên ngoài, họ có thể dễ rơi vào trạng thái bất ổn khi không được công nhận.
Bên cạnh đó, lòng trắc ẩn tự thân giúp cá nhân xây dựng mối quan hệ tích cực với người khác, vì nó thúc đẩy sự đồng cảm và thấu hiểu. Người có lòng trắc ẩn tự thân thường không đặt mình cao hơn người khác mà xem bản thân là một phần của cộng đồng chung, nơi tất cả mọi người đều có thể mắc sai lầm và cần được đối xử tử tế.
Trong khi đó, người tự luyến lại có xu hướng thiếu đồng cảm, thường thao túng hoặc lợi dụng người khác để củng cố địa vị của mình. Điều này có thể khiến họ gặp khó khăn trong các mối quan hệ xã hội, dễ bị cô lập hoặc gây mâu thuẫn với người khác.
Về mặt tác động tâm lý, nghiên cứu của Neff (2011) cho thấy lòng trắc ẩn tự thân giúp giảm căng thẳng, lo âu và trầm cảm, đồng thời tăng cường sự hài lòng trong cuộc sống. Trong khi đó, nghiên cứu của Miller và cộng sự (2011) chỉ ra rằng tự luyến có thể dẫn đến sự bất ổn cảm xúc, dễ bị tổn thương trước những lời chỉ trích và có nguy cơ phát triển rối loạn nhân cách ái kỷ (narcissistic personality disorder – NPD).
Những người có xu hướng tự luyến có thể bị mắc kẹt trong vòng xoáy của nhu cầu khẳng định bản thân và cảm giác không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đạt được.
Tóm lại, lòng trắc ẩn tự thân và tự luyến có sự khác biệt rõ ràng về cách một người đối xử với bản thân và người khác. Trong khi lòng trắc ẩn tự thân giúp cá nhân xây dựng sự ổn định nội tâm và phát triển những mối quan hệ lành mạnh, tự luyến lại có thể dẫn đến sự bất ổn và khó khăn trong cuộc sống.
Việc nuôi dưỡng lòng trắc ẩn tự thân không chỉ giúp mỗi người đối diện với thất bại một cách nhẹ nhàng hơn mà còn tạo ra một nền tảng tinh thần vững chắc để sống hạnh phúc và hòa hợp với những người xung quanh.
(Sưu tầm)

Sự khác biệt giữa Lòng trắc ẩn tự thân và Lòng tự trọngLòng trắc ẩn tự thân (Self-Compassion) vòng Lòng tự trọng (Self-E...
08/07/2025

Sự khác biệt giữa Lòng trắc ẩn tự thân và Lòng tự trọng
Lòng trắc ẩn tự thân (Self-Compassion) vòng Lòng tự trọng (Self-Esteem) là hai khái niệm có ảnh hưởng quan trọng đến sự nhận thức về bản thân và sức khỏe tâm lý của mỗi cá nhân. Cả hai đều góp phần xây dựng một mối quan hệ tích cực với chính mình, nhưng chúng khác nhau về cách cá nhân nhìn nhận và đánh giá giá trị bản thân.
Theo Neff (2003), lòng trắc ẩn tự thân bao gồm sự nhân ái với chính mình, nhận thức rằng những khó khăn cá nhân là một phần của trải nghiệm nhân loại, và duy trì sự chánh niệm khi đối mặt với những khoảnh khắc khó khăn trong cuộc sống. Ngược lại, lòng tự trọng là sự đánh giá và nhận thức về giá trị bản thân, thường dựa trên thành công cá nhân hoặc so sánh với người khác (Neff và Vonk, 2009).
Lòng tự trọng cao đôi khi có thể kéo theo những quan niệm không đúng và thổi phóng về bản thân, gây ra sự kiêu ngạo hoặc các hành vi tự ái (narcissism). Các nghiên cứu chỉ ra rằng những người có lòng tự trọng cao đôi khi có xu hướng hạ thấp người khác để nâng cao hình ảnh bản thân (Crocker và Park, 2004).
Bên cạnh đó, họ có thể trải qua những dao động cảm xúc mạnh khi đối mặt với thất bại, vì giá trị bản thân của họ phụ thuộc vào sự thành công trong những lĩnh vực cụ thể (Kernis, 2003). Trái lại, lòng trắc ẩn tự thân mang lại sự ổn định về cảm xúc và giúp cá nhân đối mặt với những khuyết điểm của mình một cách nhân ái và chấp nhận hơn (Neff, 2011).
Cả hai khái niệm đều góp phần định hình cách ứng xử với bản thân và người khác. Tuy nhiên, lòng trắc ẩn tự thân liên quan chặt chẽ đến sự hài lòng, sự kiên nhẫn và một tâm trạng tích cực hơn trong cuộc sống, trong khi lòng tự trọng cao có thể gây ra những hành vi phòng vệ hoặc phản ứng quá khích với những lời chê trách (Baumeister và cộng sự, 2003).
Lòng trắc ẩn tự thân và lòng tự trọng đều mang lại những lợi ích nhất định, nhưng lòng trắc ẩn tự thân có tác động ổn định và bền vững hơn đối với sức khỏe tâm lý. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng lòng trắc ẩn tự thân có thể dự báo tốt hơn mối quan hệ tích cực với bản thân so với lòng tự trọng (Neff và Knox, 2017).
(Sưu tầm)

Address

Lô 24 Tầng 2A Tòa Nhà A3 Số 250 Phố Minh Khai Quận Hai Bà Trưng
Hanoi
100000

Opening Hours

Thursday 09:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00
Saturday 09:00 - 17:00
Sunday 09:00 - 17:00

Telephone

0845998668

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phòng trị liệu tâm lý lâm sàng - ThS Tâm lý học Nguyễn Thị Thu Hà posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share