20/06/2026
Cha mẹ Việt Nam thường thương con bằng hành động. Ba mẹ làm việc, tiết kiệm, lo tiền học, nhắc con học bài, đưa con đi học thêm và luôn nghĩ về tương lai của con. Với nhiều người, giúp con có một cuộc sống tốt hơn là một trong những trách nhiệm lớn nhất của đời mình.
Nghiên cứu cũng cho thấy các gia đình Việt Nam thường dành rất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức cho việc học của con. Ba mẹ theo sát bài vở, trao đổi với giáo viên và đặt nhiều hy vọng vào con đường mà giáo dục có thể mở ra (Dang & Rogers, 2016; Rolleston et al., 2013; Zharkevich et al., 2016).
Phần lớn sự quan tâm ấy có thể giúp con. Con có thêm cơ hội học tập. Con hiểu rằng việc học là quan trọng. Con cũng có thể cảm nhận được rằng ba mẹ tin vào mình.
Nhưng càng đọc, tôi càng thấy một điều khó nói.
Cùng một hành động có thể là tình thương từ phía ba mẹ, nhưng lại trở thành áp lực từ phía con.
Ba mẹ kiểm tra bài vì quan tâm. Con có thể cảm thấy mình không được tin tưởng.
Ba mẹ nhắc đi nhắc lại vì sợ con thất bại. Nhưng lâu dần, con có thể học cách chờ người lớn nhắc thay vì học cách tự bắt đầu.
Ba mẹ nói: “Ba mẹ đã hy sinh rất nhiều vì con” vì muốn con biết trân trọng. Nhưng điều con nghe được đôi khi lại là: “Con đang mắc nợ ba mẹ.”
Điều này không có nghĩa ba mẹ thương con sai. Nó chỉ có nghĩa rằng điều ba mẹ muốn trao và điều con thật sự nhận được không phải lúc nào cũng giống nhau.
Các nghiên cứu với thanh thiếu niên Việt Nam cho thấy sự ấm áp và thấu hiểu từ cha mẹ có liên quan đến sức khỏe cảm xúc tốt hơn. Ngược lại, sự bảo bọc quá mức và cách nuôi dạy mang tính kiểm soát có liên quan đến nhiều khó khăn cảm xúc hơn (Nguyen et al., 2020; La et al., 2022).
Vấn đề không nằm ở việc gia đình có quy tắc.
Trẻ cần nề nếp. Trẻ cần giới hạn. Trẻ cần người lớn có thể nói “không”.
Điều quan trọng là ba mẹ đưa ra giới hạn ấy như thế nào.
“Con cần làm xong bài tập” là một yêu cầu rõ ràng.
“Con lười quá. Nói mãi không nghe. Cứ thế này thì sau này chẳng làm được gì đâu” biến một vấn đề với bài tập thành một vấn đề với chính đứa trẻ.
Cả hai câu có thể đều xuất phát từ lo lắng. Nhưng chúng không dạy con cùng một bài học.
Một câu cho con biết việc gì cần làm tiếp theo.
Câu còn lại có thể khiến con nghĩ rằng mỗi khi mình gặp khó khăn, điều đó có nghĩa là bản thân mình có vấn đề.
Ba mẹ không chỉ dạy con phải làm gì. Qua cách mình phản ứng, ba mẹ còn dạy con cách nhìn về chính mình.
Con có thể học: “Mình chưa làm được, nhưng mình có thể thử lại.”
Hoặc con có thể học: “Mình chỉ an toàn khi làm mọi thứ thật đúng.”
Con có thể học: “Ba mẹ sẽ giúp mình suy nghĩ.”
Hoặc con có thể học: “Ba mẹ sẽ suy nghĩ thay mình.”
Đó là lý do tôi phát triển HEAR, hay NGHE trong tiếng Việt.
HEAR/NGHE là một cách đơn giản giúp ba mẹ chậm lại trước khi phản ứng. Trước hết, ba mẹ lắng nghe và kiểm tra xem chuyện gì đang xảy ra. Sau đó, ba mẹ thử hiểu con đang cảm thấy gì và điều gì đang quan trọng với con. Cuối cùng, ba mẹ đưa ra câu trả lời, giới hạn hoặc bước tiếp theo một cách rõ ràng.
Lắng nghe không có nghĩa là con muốn gì cũng được.
Điện thoại vẫn có thể phải tắt. Bài tập vẫn có thể phải hoàn thành. Con vẫn có thể phải xin lỗi, sửa lại điều mình đã làm hoặc chấp nhận một hậu quả hợp lý.
Ba mẹ có thể nói:
“Mẹ hiểu là con đang tức vì con thấy chuyện này không công bằng. Nhưng đánh người vẫn không được. Mình bình tĩnh lại trước, rồi mẹ con mình nói tiếp.”
Ba mẹ vẫn là người giữ giới hạn. Quy tắc vẫn còn đó. Nhưng con không cần bị làm nhục, xúc phạm hay dọa sợ mới chịu nghe.
HEAR/NGHE được tạo ra cho khoảng giữa hai lựa chọn khiến nhiều ba mẹ mắc kẹt: phải thật nặng thì con mới nghe, hoặc phải thật nhẹ đến mức chính ba mẹ cũng không biết giới hạn nằm ở đâu.
Có một con đường khác.
Ba mẹ có thể vừa tử tế vừa rõ ràng.
Ba mẹ có thể hiểu con mà vẫn nói “không”.
Ba mẹ có thể hướng dẫn mà không làm thay con mọi thứ.
Ba mẹ có thể giữ được uy của mình mà không cần dùng nỗi sợ để giữ nó.
HEAR/NGHE đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ phụ huynh, giáo viên và những người làm việc với trẻ em. Bước tiếp theo là đưa khung này vào nhiều gia đình thật hơn, trong những lúc ba mẹ đang mệt, lo lắng, tức giận hoặc không biết nên nói gì tiếp theo.
Nếu bạn là ba mẹ và muốn thử HEAR/NGHE, hãy nhắn cho NEST.
Bạn không cần phải luôn bình tĩnh hay giỏi nói về cảm xúc. Bạn chỉ cần sẵn sàng thử một cách phản hồi khác trong một khoảnh khắc khó.
HEAR/NGHE không hứa làm mọi xung đột biến mất. Nhưng nó có thể giúp gia đình đi qua xung đột mà không khiến mọi chuyện nặng nề hơn mức cần thiết.
Tài liệu tham khảo
Dang, H.-A. H., & Rogers, F. H. (2016). *The decision to invest in child quality over quantity: Household size and household investment in education in Vietnam*. World Bank.
La, A., et al. (2022). Parenting styles and mental health among Vietnamese urban late adolescents. *International Journal of Environmental Research and Public Health, 19*, 2255.
Nguyen, H. T. L., et al. (2019). Relationships among parent-adolescent bonding, bullying and mental health in Vietnamese adolescents. *Child and Adolescent Psychiatry and Mental Health, 13*, 16.
Nguyen, Q. A., Tran, T. D., Harpham, T., van der Wurff, F. B., & Weiss, B. (2020). Perceived parenting styles and emotional intelligence among adolescents in Vietnam. *The Family Journal, 28*(1), 24–32.
Rolleston, C., James, Z., & Aurino, E. (2013). *Exploring the effect of educational opportunity and inequality on learning outcomes in Ethiopia, Peru, India, and Vietnam*. Young Lives.
Van Heel, M., et al. (2019). Parenting practices in Vietnam: Psychometric properties of measures of parenting behaviour and psychological control.
Zharkevich, I., Roelen, K., Hossain, N., & Scott, L. (2016). *Gendered trajectories through school, work and marriage in Vietnam*. Young Lives.