01/09/2020
Cảm thấy "đơn thuần" rất dễ thương,
—
Cha tôi mỗi độ Trung Thu lại trông trăng, mà cái vui cốt yếu của việc trông trăng, là ăn cua.
Sau khi cha đỗ cử nhân thì khoa cử bị bãi bỏ, ông ở nhà nhàn rỗi, ngày ngày chỉ uống rượu đọc sách. Ông không ăn thịt dê, bò, lợn song lại thích ăn cá, tôm. Nhất là cua thì càng khoái. Từ tháng Bảy, tháng Tám tới tận mùa đông, tối nào ông cũng ăn một con cua và một bát đậu phụ khô nóng hổi mới ra lò mua ở quán đậu cách vách. Ông luôn dùng bữa tối vào lúc hoàng hôn. Trên bàn bát tiên bày một cây đèn dầu, một bình rượu trắng, một bát sứ men rạn có nắp đựng đậu phụ khô nóng hổi, một ống điếu thuốc lào, một cuốn sách, góc bàn còn một con mèo già ngồi chễm chệ, cảnh tượng ấy đã khắc sâu vào tâm trí tôi, đến giờ vẫn như sờ sờ trước mắt. Tôi ngồi chầu chẫu một bên, thỉnh thoảng lại được cha cho một cái chân cua hoặc nửa miếng đậu. Nhưng tôi thích chân cua hơn. Cua tuyệt ngon, năm anh chị em tôi đều mê, cũng đều do cha cả. Chỉ có mẹ tôi là ngược lại, bà thích ăn thịt chứ không thích và cũng không biết ăn cua, khi ăn hay bị g*i trên càng cua đâm vào ngón tay chảy máu, bóc cũng không sạch, thường bị cha chê là tay mơ. Cha nói ,”Ăn cua là việc tao nhã, người rành mới bóc khéo được. Trước tiên phải bẻ chân cua, sau đó tách mai... Làm sao ăn được hết thịt ở các khớp chân, làm sao bóc hết thịt ở yếm... Có thể lấy vuốt nó làm thìa mà nạo thịt... phần càng còn xếp được thành một con bướm rất đẹp...” Cha đúng là thạo ngón ăn cua, ăn sạch như lau. Bởi vậy u Trần mới nói, “Vỏ cua ông bỏ đi đúng là vỏ cua.”
Cua được thả trong ang nước nằm một góc giếng trời, thường nuôi chừng mười con. Tới Thất Tịch, rằm tháng Bảy, Trung Thu, Trùng Dương, trong ang đầy ắp những cua, bấy giờ chúng tôi ai cũng được ăn, hơn nữa mỗi người phải ăn một con to hoặc con rưỡi. Nhất là Trung Thu lại càng thích thú. Chạng vạng tối, bê bàn ra khoảnh sân trống cách vách ăn cơm dưới trăng. Canh khuya thanh vắng, dưới vầng trăng sáng chỉ có gia đình tôi, ngồi vừa một bàn, ngoài ra chỉ có cô hầu Hồng Anh ngồi cạnh để sai vặt. Cả nhà cười nói, trông trăng, cha và các chị ngồi mãi tới khi trăng lặn, còn tôi thường ngủ gục giữa chừng, không từ mà biệt.
Đây vốn là vì cha thích cua, chủ yếu bày ra để ăn cua. Thế nên những bữa tiệc tối này không chỉ vào Trung Thu, mà thỉnh thoảng gặp đêm trăng giữa mùa cua lại bày ra. Song không phải ngày lành tháng tốt nên chúng tôi không ăn nhiều, có lúc hai người chia nhau một con. Chúng tôi đều học theo cha, bóc thật tỉ mẩn, thịt bóc ra cũng chẳng vội ăn ngay mà bỏ vào mai, bóc xong cho ít giấm gừng, trộn lên, coi như món ăn kèm với cơm, ngoài ra không còn món gì khác. Cha dùng thức ăn rất dè sẻn, ông nói cua là ngon nhất, ăn lẫn với những món khác thực chẳng ra sao. Chúng tôi cũng học theo, nửa mai thịt cua ăn hai bát cơm vẫn còn dư, vừa được cha khen, vừa tha hồ ăn vã phần còn lại, nên ai nấy đều bảo nhau ăn dè. Giờ nghĩ lại lúc đó, nửa cái chân cua cũng ăn được hai miếng cơm to, ngon ơi là ngon! Từ sau khi cha mất, tôi chẳng được nếm món ngon này nữa. Giờ tôi cũng đã làm cha, lại ăn chay, dĩ nhiên không bao giờ nếm món này nữa. Ôi! Cái vui thuở bé thực khiến người ta nhung nhớ!
(Sống vốn đơn thuần | Phong Tử Khải, Tố Hinh dịch)