22/01/2026
PHẦN I
KHÓ KHĂN KHI ĐỐI PHÓ BỆNH VIBRIO TRÊN TÔM NUÔI
Trong nghề sản xuất giống, ương, nuôi, tôm sú và tôm thẻ chân trắng, một trong các tác nhân gây ra các đợi dịch bệnh lớn, kéo dài, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế của bà con các vùng nuôi tôm trong cả nước như bệnh gan tuỵ cấp, phân trắng, phát sáng, TPD… chính là Vi khuẩn thuộc nhóm Vibrio. Thói quen không ít bà con nuôi tôm thường diệt khuẩn đầu vào, diệt khuẩn định kỳ trong quá trình nuôi, diệt khuẩn khi tôm có dấu hiệu bệnh…Nhưng câu hỏi đặt ra, liệu việc diệt khuẩn trên, có mang lại hiệu quả như mong muốn ? Liệu những thuốc diệt khuẩn dùng lần trước, sử dụng lần này có tác dụng không ? Liều lượng sử dụng lần này, dùng như lần trước liệu có ổn không ? Chúng ta đã thực sự hiểu rõ kẻ thù Vibrio của tôm chưa ? Thực tế, kỹ thuật nuôi tôm hiện nay đã thay đổi rất nhiều, nhiều công nghệ hiện đại được bà con nuôi tôm áp dụng cho hiệu quả cao, đặc biệt là nuôi tôm công nghệ cao… Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhìn nhận, đánh giá, đối phó, với Vibrio hoàn toàn như cũ, không thay đổi. Hiểu biết giới hạn của chúng ta về mầm bệnh nguy hiểm này, còn rất sơ sài, có phần chủ quan.
Hiện tại, nhiều dòng Vibrio như Vibrio parahaemolyticus;Vibrio harveyi; Vibrio alginolyticus; Vibrio vulnificus; Vibrio cholerae… đã kháng đa số các loại kháng sinh và các hoá chất diệt khuẩn bà con đang dùng trong nuôi tôm hiện nay. Nguy hiểm hơn, chúng có Plasmid, một DNA nhỏ, có khả năng di truyền, trao đổi, gen kháng thuốc giữa các dòng vi khuẩn khác nhau, cho thế hệ sau, đó là lý do tại sao càng ngày chúng ta càng khó đối phó hơn với chúng. Thứ hai, chúng có cơ chế giao tiếp giữa các vi khuẩn bằng mật mã, cảm biến mật độ. Vibrio không gây bệnh cho tôm khi số lượng ít. Chúng “nghe ngóng” mật độ bằng cách tiết phân tử tín hiệu hóa học (AHL, AI-1, AI-2, AIP..). Khi đủ đông, nồng độ tín hiệu đạt ngưỡng, vi khuẩn "nhận diện“, bật biểu hiện gen: Tiết độc tố (PirA/PirB). Độc tố như mũi khoan tấn công gan tụy, gây hoại tử cấp tính tế bào biểu mô ống gan tuỵ, suy đa tạng viêm ruột, gây bệnh gan tuỵ, đường ruột tôm. Mặt khác, Plasmid hỗ trợ bám dính, và xâm nhập, giúp vi khuẩn bám chặt và xâm nhập vào tế bào vật chủ. Plasmid giúp vi khuẩn có khả năng né tránh hệ miễn dịch, giúp vi khuẩn tạo vỏ bọc hoặc vô hiệu hoá cơ chế phòng vệ của tôm. Song song đó, chúng hình thành màng biofilm, bao bọc, bảo vệ vi khuẩn. Đây chính là lý do tại sao, bà con dùng kháng sinh, hoá chất diệt khuẩn, ngày càng không có tác dụng như mong muốn.
Đã đến lúc chúng ta cần thay đổi cách nuôi tôm, thay vì theo lối mòn cũ, với câu hỏi quen thuộc như dùng thuốc, hoá chất nào để diệt Vibrio ? Hay tư duy mới, làm cách nào để Vibrio không có điều kiện gây bệnh. Kiểm soát Vibrio chủ động, lâu dài, ổn định ?
Một chiến lược nuôi tôm hạn chế kháng sinh, hoá chất. Sử dụng 4 trụ cột bổ xung trực tiếp vào thức ăn tôm, được xem như là chắn dinh dưỡng vững chắc. Bốn trụ cột đó là Ức chế cảm ứng quần thể (Quorum Sensing Inhibitors); Cạnh tranh sinh học (Biocontrol); Phá vỡ màng biofilm bằng cơ chế vật lý (Biofilm Disruption); Cocktail đa cơ chế (Synergistic Cocktail).
Chúng tôi sẽ trình bày ở phần II
Lý Vĩnh Phước