Đại Việt Thần Thoại

Đại Việt Thần Thoại Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Đại Việt Thần Thoại, Astrologist & Psychic, Tay Ho.

Nơi chia sẻ, bàn luận, tổng hợp thông tin về các câu chuyện, tín ngưỡng, tâm linh, yêu quái, thần linh... đất Việt
Thi thoảng admin "khó ở" thì sẽ đăng về văn hóa cổ phong, vấn đề xã hội, quốc tế...
Link nhóm
https://www.facebook.com/share/g/18dp9R7466/

ĐỀN THỜ LIỄU NGHỊ ở Hải DươngLiễu Nghị truyện (柳毅傳), còn được biết đến với các tên gọi Liễu Nghị truyền thư (柳毅傳書), Động...
23/08/2026

ĐỀN THỜ LIỄU NGHỊ ở Hải Dương

Liễu Nghị truyện (柳毅傳), còn được biết đến với các tên gọi Liễu Nghị truyền thư (柳毅傳書), Động Đình linh nhân truyện (洞庭靈姻傳) hoặc Động Đình tình ký (洞庭情記), là một tác phẩm truyền kỳ của tác giả Lý Triều Uy, sáng tác khoảng triều Đường Cao Tông, là nguyên gốc của câu chuyện Mẫu Thoải - Kính Xuyên - Thảo Mai - Liễu Nghị trong các truyền thuyết về Mẫu Thoải của Đạo Mẫu, nhưng ít ai biết được là nhân vật Liễu Nghị trong câu chuyện này được tôn làm thần linh và được thờ tự.

*Chùa Ông Sộp ở xã Tân Trào, Thanh Miện, Hải Dương, xưa là xã Ngọc Lạp, là nơi thờ đức thánh Liễu Nghị. Thần tích ở đây kể:

“Ngài là sao Liễu giáng sinh. Đức thánh phụ là Liễu Phong, đức thánh mẫu là Hán Thị Miên. Ngày học ông Hàn Tỉnh tiên sinh. Ngài có phép phù thủy, lúc bấy giờ ngài chưa đỗ, ngài đi chu du sơn thủy, gặp một người thiếu nữ kêu khóc ở trong rừng, vừa khóc vừa lạy nói rằng:

Thiếp là con gái vua Động Đình, bị giáng làm người dương thế, lấy Hồ Nghi người Kinh Diên, có vợ bé là Thị Chi. Thị Chi dụng tình làm thư giả nói với chồng là Hồ Nghi rằng thiếp có ngoại tình cho nên người chồng đem đày ở trong rừng này, bắt nuôi dê bao giờ dê đực đẻ mới được về. Thiếp xin viết 1 bức thư nhờ lang quân đem xuống Động Đình, cứ đi đến bên sông Hoàng Giang thấy có cây quất, lang quân đánh vào cây quất 3 tiếng tự nhiên ứng hiện.

Ngài đến bến sông Hoàng Giang cầm thư đánh vào cây quất, quả nhiên thấy đền đài lầu các, đền gọi là đền Hư Linh Đài, chỗ ăn, chỗ ở lạ khác dương trần, thấy vua Động Đình ngồi chỉnh tọa, tay cầm ngọc khuyên. Bấy giờ ngài dâng thư vào. Vua Động Đình xem thư sai Xích Lân Đại tướng đến chỗ sơn lâm đón con gái về, rồi mở tiệc yến. Vua Động Đình cho kết làm vợ chồng nhưng ngài không nghe, từ chối xin để sau này sẽ hay. Vua Động Đình tặng kim ngân châu ngọc cũng không lấy. Bấy giờ vua Động Đình sai Xích Lân Đại tướng tiễn ngài về dương trần. Lúc bấy giờ con gái vua Động Đình tiễn ngài ra ngoài Bích Vân cung, có cầm lấy tay ngài đọc bài thơ lưu luyến.

Thiếp nay thoát khỏi kiếp chăn dê

Nhờ ơn sâu nặng báo Thủy Tề

Đức lớn biết bao giờ đền đáp

Nguyện đem tấm thân theo chàng về.

Ngài lại đọc một bài thơ rằng:

Bích Vân lời ấy xin nàng nhớ

Mãi với non cao cùng biển xanh

Một dải âm dương chia tách ngả

Chín trời mây nước mộng ba canh.

Thơ rồi đức bà về long cung, đức ông về dương thế.

Một thời gian sau, Liễu Nghị làm quan, nhân buổi thanh nhàn, ra bến Nhị Hà, chu du sông nước, gặp cô lái đò, đúng thực người xưa, kết duyên chồng vợ. Trời đất tối đen, mưa gió bão bùng, người chết của mất, Liễu Nghị tướng quân, lập đàn trị thủy tại xã Ngọc Lạp, nay chính chùa Sộp, Thủy Tiên công chúa, Xạ thư cầu đảo bên làng Nhữ Xá, nay là chùa Dựa, ba ngày linh ứng, trời quang mây tạnh, nhân dân phấn khởi, trở lại cuộc sống, như lúc ban đầu. Ông Sộp bà Dựa, âm dương xung khắc, thủy hỏa không đồng, mỗi người một phương, tu rồi hiển Thánh, hai thôn lập đền, phụng thờ đến nay."

Sự tích Liễu Nghị ở Thanh Miện, Hải Dương không chỉ dừng lại ở việc Liễu Nghị cứu được người con gái con vua Động Đình mà còn cho biết ông có thuật “phù thủy" và có phép trị thủy chống lũ lụt.

Đôi câu đối ở chùa Ông Sộp nói về thánh Liễu Nghị:

Tác vũ hưng vân thiên hữu hạn

Xạ thư trị thuỷ địa vô hồng.

Nghĩa là:

Khởi tạo mây mưa trời còn hạn

Bắn thư trị thủy đất không tràn.

Câu đối nhắc lại tích Liễu Nghị cùng Thần Long đã viết thư gửi xuống Thủy phủ để làm cạn nước chống lũ lụt.

Ko nhớ nguồn

*Ảnh hưởng của tác phẩm văn học Liễu Nghị truyện với văn hóa Việt Nam
https://www.facebook.com/share/p/mPWjiiXBzCKuJoG4/?mibextid=oFDknk

Ảnh: khám thờ Liễu Nghị ở chùa Ông Sộp

ĐỀN THỜ LIỄU NGHỊ tại làng Vạn Chài, Nghệ An Liễu Nghị truyện (柳毅傳), còn được biết đến với các tên gọi Liễu Nghị truyền ...
22/08/2026

ĐỀN THỜ LIỄU NGHỊ tại làng Vạn Chài, Nghệ An

Liễu Nghị truyện (柳毅傳), còn được biết đến với các tên gọi Liễu Nghị truyền thư (柳毅傳書), Động Đình linh nhân truyện (洞庭靈姻傳) hoặc Động Đình tình ký (洞庭情記), là một tác phẩm truyền kỳ của tác giả Lý Triều Uy, sáng tác khoảng triều Đường Cao Tông, là nguyên gốc của câu chuyện Mẫu Thoải - Kính Xuyên - Thảo Mai - Liễu Nghị trong các truyền thuyết về Mẫu Thoải của Đạo Mẫu, nhưng ít ai biết được là nhân vật Liễu Nghị trong câu chuyện này được tôn làm thần linh và được thờ tự.

Tại làng Vạn Chài Nghĩa Sơn bên dòng sông Lam thuộc xã Hưng Long huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An nay còn ngôi đền thờ Liễu Nghị Đại vương và Động Đình Thủy Tinh Công chúa.

Theo Tục thờ thần và thần tích Nghệ An của Ninh Viết Giao cho biết: Tên thần là Liễu Nghị, ngài đậu tiến sĩ. Khi vinh quy đi qua núi Bạt Sơn, ngài gặp công chúa Thủy Tinh. Thủy Tinh là con gái đầu của Long Vương ở hồ Động Đình đã kết duyên với Kính Xuyên. Kính Xuyên lấy thêm vợ hai Thảo Mai. Nàng Thảo Mai đem lòng ghen ghét đặt điều nói xấu vợ cả. Thủy Tinh bị Kính Xuyên hắt hủi, rồi lưu đày đến đất Bạt Sơn. Gặp Liễu Nghị nàng trao cho chàng một bức thư nhờ đưa đến Thủy phủ. Liễu Nghị nói từ hồ Động Đình đi Thủy phủ không có thuyền qua sông. Tức thì nàng đưa cho Liễu Nghị một chiếc kim thoa và dặn đi đến bến có cây Ngô đồng thì gõ ba tiếng, sẽ có đôi rắn to nổi lên mặt nước đưa chàng về Thủy phủ.
Sau khi đọc bức thư biết hết sự tình, Long Vương liền sai Thái tử Xích Lân đến Bạt Sơn rước Thủy Tinh về Long cung và cho phép nàng được kết duyên cùng Liễu Nghị.

Tại đền Nghĩa Sơn còn lưu được tới 19 đạo sắc phong cho các vị thần sau:

-Liễu Nghị Đại Vương chi thần
-Thủy Tinh phu nhân chi thần
-Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế chi thần
-Hà Bà Thủy phủ Động Đình quân chi thần
-Tích phúc Thùy hưu chi thần
-Bản cảnh Tham thị Trung liệt Hùng Nghị Đại vương
-Bản cảnh Thủy đạo Tả tướng quân kiêm tri hà hải chi thần
-Tả linh quan Giám đàn Tướng quân.

Trước cửa cung của đền có tấm hoành phi đề: Long ngư biến hóa, nghĩa là: Rồng cá biến hóa.

Hiện tại trong đền Nghĩa Sơn còn bức bài vị cổ ghi: Bản cảnh Đệ tam Liễu Nghị Đại vương sắc gia tặng Dực bảo Trung hưng Tối linh Tôn thần thần vị. Ở gian trong là ngai thờ Thủy Tinh Công chúa. Ban trong cùng có ngai thờ có đặt trầm hương trên ngai với dòng chữ phía trên đề Tam phủ Hội đồng.

Nguồn: bahviet18 (chẹp chả muốn ghi đâu do bài gốc cái nửa sau tư duy nghe hơi ố dề)
*Ảnh hưởng của tác phẩm văn học Liễu Nghị truyện với văn hóa Việt Nam
https://www.facebook.com/share/p/mPWjiiXBzCKuJoG4/?mibextid=oFDknk

Dựa vào bộ sách kỹ thuật người An Nam bản lưu ở Nhật ta có thể thấy tại các ngôi chùa miền bắc xưa có một kiểu chuông gi...
18/08/2026

Dựa vào bộ sách kỹ thuật người An Nam bản lưu ở Nhật ta có thể thấy tại các ngôi chùa miền bắc xưa có một kiểu chuông gió bằng gang kết hợp với lá phan bên dưới để "mồi gió". Nếu có những ai khai thác không gian Phật giáo thì có thể cho kiểu chuông này, giờ chắc không còn

MÚA MẶT NẠ SƠN QUÂNỞ 2 xã Trực Cường, Trực Thái thuộc vùng Nam Định còn lưu giữ được một loại hình nghệ thuật độc đáo: M...
15/08/2026

MÚA MẶT NẠ SƠN QUÂN

Ở 2 xã Trực Cường, Trực Thái thuộc vùng Nam Định còn lưu giữ được một loại hình nghệ thuật độc đáo: Múa Sơn Quân. Đây là loại hình nghệ thuật múa diễn các tích trò dân gian. Nét độc đáo của nghệ thuật múa Sơn Quân thể hiện ở việc diễn viên hóa thân vào các nhân vật trong tích cổ bằng mặt nạ.

Theo các bậc cao niên ở địa phương, nghệ thuật múa Sơn Quân xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ XIX với hoạt động của đội múa Sơn Quân Ninh Cường, thuộc tổng Ninh Cường, huyện Chân Ninh. Ông Đỗ Văn Đại (76 tuổi), xóm Đức Long, xã Trực Cường, Chủ nhiệm CLB múa Sơn Quân Thái Cường cho biết: Trước ông đã có 6 đời các vị tiền nhiệm phụ trách đội múa Sơn Quân ở địa phương. Hiện nay (năm 2014), CLB có 38 thành viên (20 thành viên ở xã Trực Cường, 18 thành viên ở xã Trực Thái), người cao tuổi nhất đã 76 tuổi, người trẻ tuổi nhất cũng ngoài 30 tuổi. Đặc biệt, khi diễn các tích trò, các thành viên CLB vẫn sử dụng những vật dụng, đạo cụ và nét biểu diễn truyền thống của ông cha. Hiện nay, CLB còn lưu giữ 30 chiếc mặt nạ có niên đại khoảng 180 năm (từ khi thành lập Đội múa Sơn Quân Ninh Cường), chất liệu được làm từ gỗ sung mô phỏng các nhân vật trong tích “Đường Tăng đi Tây thiên thỉnh kinh”. Các đường nét trên mặt nạ được chạm khắc tinh tế, công phu, khắc họa chân thực tính cách nhân vật. Ngoài ra, CLB vẫn lưu giữ hàng chục đạo cụ biểu diễn như 2 đôi kiếm, 2 đôi thiêu (gươm), 1 thiên lôi, 1 quả bồ, 1 gậy thiết trượng, 1 gậy độ… Múa Sơn Quân thường được biểu diễn theo 2 lối: Lối diễn ở sân khấu ngoài trời, sân khấu được trang trí gồm những cành cây được xếp thành hình quả núi hoặc thành “động” phỏng theo không gian của các tích diễn, như tích “Đường Tăng đi Tây thiên thỉnh kinh”. Ở lối diễn này thường theo hình thức “mở động” với các tiết mục võ thuật cổ đẹp mắt, những điệu múa di chuyển nhịp nhàng... Lối diễn ở các lễ rước, đội múa Sơn Quân sẽ đứng sau đội cờ, đội trống, thanh la, não bạt. Nhân vật Ngộ Không đi trước, vừa đi vừa nhảy múa theo nhịp trống để dẹp đường cho đoàn rước. Lối diễn này thường được sử dụng ở các dịp lễ hội ở địa phương như lễ hội Đức Thánh Trần (20-8 âm lịch) ở đền Trần, xã Trực Thái; dịp lễ hội chùa Phúc Linh (mùng 10-3) ở xã Trực Cường. Khi diễn các tích cổ, người diễn viên phải luyện tập các tư thế, cử chỉ, lời nói, điệu bộ đúng với nét tính cách của nhân vật.

Bác Trần Văn Minh, xóm Thái Hòa, xã Trực Cường hiện là diễn viên đóng vai Tôn Ngộ Không chia sẻ, để hoá thân vào nhân vật, ngoài đọc, xem các tích về Tôn Ngộ Không, bác còn học hỏi kinh nghiệm của những người trong CLB. Vào vai diễn Trư Bát Giới, bác Đỗ Thanh Phong, xóm Nam Hòa, xã Trực Cường có cách biểu diễn hóm hỉnh nên thể hiện rất thành công, được người xem cổ vũ. Còn bác Tạ Văn Thuỷ, xóm Thái Hoà, xã Trực Cường là người điềm tĩnh, có nhiều năm kinh nghiệm biểu diễn nên rất phù hợp với vai Đường Tăng… Ngoài các tiết mục diễn tích cổ theo truyền thống, hiện CLB múa Sơn Quân Thái Cường dựng các vở chèo như vở “Huyết hồ” trong chương trình biểu diễn, thể hiện được công lao to lớn của cha, mẹ; giáo dục con cái phải sống hiếu thuận, trọn đạo làm con. Các tuyến nhân vật trong các cuộc giao tranh giữa cái thiện và cái ác dù khó khăn bao nhiêu thì cuối cùng nhân vật thiện vẫn luôn chiến thắng, nhân vật ác sẽ bị trừng trị.

KÈN ĐÔIMột loại nhạc cụ truyền thống Việt Nam được ghi nhận từ thời nhà Lê (1428-1789), gồm hai ống gắn liền và chơi đồn...
13/08/2026

KÈN ĐÔI

Một loại nhạc cụ truyền thống Việt Nam được ghi nhận từ thời nhà Lê (1428-1789), gồm hai ống gắn liền và chơi đồng thời.

Le Mercure musical (1907) ghi chép rằng:
Cai-ken-doï là một nhạc cụ thuần túy của người An Nam. Lấy làm ngạc nhiên vì không một tác giả Hán học nào từng nhắc đến nó, chúng tôi đã hỏi những nhạc công người Hoa nổi tiếng là thành thạo nghề. Họ đều khẳng định rằng Cai-ken-doï là một phát minh của người An Nam và hoàn toàn không được biết đến trong Đế quốc Trung Hoa.
Loại kèn hai ống này gồm hai ống tre nhỏ, mỗi ống dài khoảng 20 cm, đường kính 6 mm. Mỗi ống được khoan bảy lỗ và được buộc song song với nhau bằng sợi tre. Dăm kèn (lưỡi gà) được chế tạo từ lớp vỏ khô của một số loài nhộng, loại có độ dai và đàn hồi nhất định.

Trong sách này còn đưa ra cả bảng nốt nhạc của từng lỗ, các cặp âm (nốt kép) mà chiếc Cai-ken-doï có thể phát ra. Tác giả nhận xét rằng tiếng kèn đôi nghe hao kèn túi phương tây (bagpipe).

Có ảnh chụp, ghi chép mô tả cấu tạo, thậm chí có cả bảng nốt nhạc rồi, ai đó thử phục dựng được không?

Có lẽ ít người biết rằng da thuộc ngày xưa ngoài giày dép, mặt trống ra thì còn có thể làm gối, đến gối xếp cũng có loại...
12/08/2026

Có lẽ ít người biết rằng da thuộc ngày xưa ngoài giày dép, mặt trống ra thì còn có thể làm gối, đến gối xếp cũng có loại bằng da, nhưng thấy bảo kỹ nghệ truyền thừa này đã thất truyền sau 54.

THẠCH SANH TÂN TRUYỆN - Kết (má cuối cùng cũng xong)(Truyện dã sử đời vua Hùng thứ chín)Nghe thôi các nước truyền raThôn...
08/08/2026

THẠCH SANH TÂN TRUYỆN - Kết (má cuối cùng cũng xong)
(Truyện dã sử đời vua Hùng thứ chín)

Nghe thôi các nước truyền ra
Thông tin mới bảo nhau hòa một khi:
Cũng đòi con đức thượng vì
Con dòng chẳng lấy, lấy thì khố không.
Rủ nhau phấn lữ binh nhung
Báo thù cho bõ chút lòng chê ta.
Nghe tin các nước gần xa
Nước nào nước ấy binh gia chập chùng.
Đi bộ: núi lở tan không.
Đi thủy: nước chảy khô sông, lạ dường!
Đầu binh còn ở nước Lương
Cuối binh còn hãy ở ngang nước Tề.
Quân triều trông thấy đã ghê
Phá năm cửa ải tức thì tan hoang!
Sớ về lâu với Viện vương
Triều đình nghe biết, kinh hoàng lắm thay!
Sai binh khiến tướng đi ngay
Đi bao nhiêu lại hết rày bấy nhiêu!
Viện vương hoảng hốt trăm chiều
Lệnh sai Quốc tế vào chầu một khi:
Phiền con gắng sức ra uy
Cử binh trợ lực phù trì khi nay.
Thạch Sanh đặt gối tâu bày:
Để cho các nước nó vây lấy thành,
Thì con sẽ liệu hành binh
Ắt là các nước sẽ xin lại hàng.
Vua rằng: Binh nó vô vàn
Bổ vây bốn mặt đôi đàng khó nên. (1650)
Sanh rằng: Để nó reo lên
Lo gì đánh nó mà phiền lòng vua.
Chư quân kéo đến reo hò
Gọi: Nào quốc tế triều đô đâu nào?
Không ra đối địch cùng tao
Hay là khiếp sợ ta nào có tha!
Viện vương nghe nói xót xa
Cung phi hoàng hậu trong tòa đều lo!
Bấy giờ công chúa nói vô
Bảo chàng sao chẳng toan lo đánh rày?
Chàng rằng: Nàng khéo nói bây
Nào ai có khiến lo thay cho người.
Nói thôi mỉm miệng liền cười.
Rằng: Nàng có muốn ra chơi xem rày?
Nàng rằng: Phận gái thơ ngây
Có gì mà dám xem rày việc binh.
Chàng rằng: Hãy cứ nghe anh
Cùng xem đánh giặc quyền hành thế kia.
Nàng nghe chàng nói một khi
Theo chàng xem đánh giặc thì làm sao.
Xe loan chàng thiếp ngự vào
Tay tiên bèn gẩy thanh tao cung đàn.
Đàn kêu: tích tịch tình tang
Tiếng ti, tiếng trúc cung đàn đua vui.
Đàn kêu hơn thiệt mọi lời
Nhân duyên phu phụ số trời đã xe.
Đàn kêu: ta dỗ thì nghe
Nên đem binh lại, hàng về chưng nay.
Đàn kêu, nghe thấy lạ thay!
Cùng nhau cá nước (hai vợ chồng), rồng mây phải thời.
Đàn kêu: chớ có lược lời
Trước là tổn tướng, sau thời hại binh.
Đàn kêu: thương kẻ hành chinh
Rằng: đi chiến trận tử sinh khôn lường;
Vợ con nhà vắng ngại dường
Khôn hay sinh tử chiến trường làm sao!
Đàn kêu: bay phải hàng tao
Đàn kêu nhủ bảo thấp cao sự thường…
Quân thần đây luận đó bàn:
Nhân tâm chẳng thuận sao bàn thuận qui?
Đàn kêu nhủ bảo vân vi
Hàng tao, tao lại cho về cựu bang.
Chư quân nghe tiếng đàn vang
Khác nào như nước cành dương tưới nhuần.
Đàn kêu thực nghĩa thực nhân
Thánh tha thánh thót, muôn phần giá cao.
Trận bày như động hỏa hào
Đàn như lửa cháy nước vào tan không!
Thực là nên đấng anh hùng
Tuốt gươm bước lại sân rồng khoan khoan. (1700)
Ầm ầm một đạo hào quang
Cung đàn dỗ bảo quân thường ngã ra.
Lại vâng chiếu chỉ quốc gia
Trong mười tám nước can qua về đầu.
Lệnh truyền các nước đâu đâu
Can qua tức khắc lai chầu một khi.
Sanh rằng: Sao chẳng đánh đi
Thuận thì đã thuận, ai thì tranh ai.
Ví dù chẳng có nghe lời
Cung này ta bắn trong ngoài cũng tan.
Phản (-nghịch) vương phục tội đền vàng
Đương cơn phản gián khôn bàn phải chăng.
Sanh rằng: Tội đã bằng non
Trăm khôn nghìn khéo, ai còn giận đâu.
Cùng ta nay đã hàng đầu
Thì cho trở lại, về hầu trị dân.
Vâng lời truyền bảo chư quân
Đưa nhau kéo đến trước sân tỏ tường:
Xin vua tạm cấp ít lương
Để cho các nước ăn đưòng về nay.
Sanh nghe đáp lại khi rày:
Lương ban mười tám hộc này ra cho.
Nguyễn Đạt (?) là tướng nước Ngô
Bảo nhau mới nói nhỏ to mọi lời:
Binh ta vô số là người
Sức ta ăn hết mỗi người một lương.
Bước về tấu bẩm cùng chàng
Rằng: binh hàng vạn, quân ngàn đông thay.
Lương ban mười tám hộc này
Lấy gì cho đủ quân nay ăn đường?
Tôi nay ăn một hộc lương
Người ban cho thế, ăn đường làm sao?
Sanh nghe mới nói thấp cao:
Chàng đừng chê vội, ta nào có nghe.
Nguyễn Đạt đáp lại một khi:
Ăn mà chẳng hết người thì chiết lương.
Sanh nghe mới phán tỏ tường:
Ta nay đánh cuộc cùng chàng một keo:
Ta thì, lương có một niêu
Đố ngươi ăn hết, nhường triều lại cho.
Như ngươi hết dạ hồ đồ, (?)
Thì ngươi đoan (cam kết) lại lời cho thật thà.
Nguyễn Đạt ngồi nghĩ nói ra:
Sức ăn ít kẻ được qua tôi rày.
Vẻ chi có một niêu này
Ăn mà chẳng hết buộc tay xưng thần.
Muôn năm lai cống triều tân
Bao nhiêu đồ số (bản đồ) trước sân nộp người.
Sanh nghe chàng nói khúc nhôi
Truyền thổi lập tức một nồi xem qua. (1750)
Nồi cơm Sanh mới đem ra
Phán đòi Nguyễn Đạt ngồi mà ăn đi.
Đạt liền ngồi xuống một khi
Dỡ ra bèn mới vậy thì ngồi ăn.
Nồi cơm có phép chi chăng?
Ăn hoài ăn hủy ba lưng lại đầy!
Ra công ăn hết khi nay
Cơm ăn thì đã no rày là no.
Sanh bèn bảo tướng nước Ngô:
Trong mười tám nước ăn hầu (hầu dễ) đã xong.
Nguyễn Đạt bái tạ Thạch công.
Đoạn rồi các nước ngoài trong đều vào.
Đua nhau kéo đến ào ào
Thấy nồi ai cũng ngán ngao làm vầy:
Binh ta vô số đông thay!
Một niêu ăn uống phỏng rày đủ sao?
Sanh rằng: Bay hãy bước vào
Ăn mà hết được thì tao thưởng tài.
Quân liền bước xuống ăn ngay
Lao xao một lũ ăn rày thực no.
Niêu cơm cũng chẳng hết cho
Bấy giờ ai cũng nhỏ to đều hàng.
Thạch Sanh trở lại đền vàng
Cầm tay công chúa thiếp chàng hồi cung.
Thạch Sanh vào tạ cửu trùng
Quì tâu tỏ nỗi giao công chiến trường:
Chư hầu nay đã đầu hàng
Không còn ngạo ngược chịu làm hầu vương.
Viện vương nghe nói vội vàng
Mừng vui bèn mới khen chàng Thạch Sanh:
Tài so Hạng Vũ (tướng đời Tần) Hán Minh (Khổng minh)
Anh hùng sửa trị một mình đã ghê!
Nay nhân các nước đều về
Tôn chàng thay mặt, nhường vì thiên nhan.
Thạch Sanh vâng lệnh đền vàng
Chàng bèn cùng với hầu vương đều vào.
Hầu vương nghe lệnh xôn xao
Long lanh áo mạo, hồng bào, cân đai.
Viện vương phán bảo trong ngoài
Cho chàng lĩnh ấn lên ngai bảo tòa.
Chàng vâng lệnh trước triều ca, (vua và các quan)
Khấu đầu chịu lấy vào tòa thiên nhan.
Đoạn thời lĩnh chiếu vua ban.
Hoàng hậu (Quỳnh Nga) đặng chiếu triều đường thủa nay.
Văn ban vũ bá sắp bày
Kim ngân ban tặng ngày rày thiếu ai.
Lại ban mười tám nước ngoài
Phong làm vưng tước thay trời trị dân.
Đoạn thôi yến đãi triều tân
Phán cho các nước đem quân ra về. (1800)
Chư quân đâu đấy đều nghe
Muôn dân vạn họ theo nghề nông tang.
Nỗi nàng công chúa tòa vàng
Từ ngày lửa bén hơi hương thỏa tình.
Quế lan nay đã nảy cành
Thu đi, thu lại một ngành hóa ba.
Mới hay người ở thực thà
Trời kia chẳng phụ, ắt là thanh tao. (sướng)
Cứ trong tích cũ chép sao
Viện triều yên nối, Nam giao (nước Nam) vững vàng.
Bút hoa ghi chép tỏ tường
Truyện này thong thả thư đường mà xem.



Thạch Sanh (石生) là tên một truyện thơ Nôm Việt Nam, viết theo thể lục bát ra đời vào cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19 do một tác giả khuyết danh và được người dân kể lại dưới nhiều dị bản. Hiện có ít nhất 3 dị bản truyện thơ Thạch Sanh, đều bằng thể lục bát, nhưng trình độ nghệ thuật không đồng đều. Bản có lời văn chải chuốt nhất và được lưu hành rộng rãi nhất, gồm 1.812 câu lục bát và 2 bài thơ đề từ (một bằng chữ Hán, một bằng chữ Nôm). Bản in xưa nhất hiện còn được xuất bản vào năm Duy Tân thứ 6 (1912). Nội dung truyện thơ Thạch Sanh và truyện cổ tích có cùng tên khá giống nhau, nhưng truyện thơ ra đời muộn hơn.

THẠCH SANH TÂN TRUYỆN - Thiên Lôi giáng sét đánh chetme con Lý Thông, hóa kiếp bọ hung. Mà 2 con quái Trăn, Xà (Đại Bàng...
07/08/2026

THẠCH SANH TÂN TRUYỆN - Thiên Lôi giáng sét đánh chetme con Lý Thông, hóa kiếp bọ hung. Mà 2 con quái Trăn, Xà (Đại Bàng) lại được Thạch Sanh cho lập miếu thờ
(Truyện dã sử đời vua Hùng thứ chín)
Viện vương phán bảo một khi:
Tội Lý Thông ấy mặc thì Thạch Sanh;
Để ngươi liệu định cho minh
Báo thù trả oán, sự tình bấy nay
Sanh nghe đặt gối tâu bày
Rằng: Xin rộng lượng vua nay xét cùng:
Nay chàng ăn ở khác lòng.
Máu tham quen giữ thói đồng dâm ô.
Làm chi đứa dại ngoan ng.u
Xin tha cho nó về tù bản hương.
Vua rằng: Sự ấy mặc chàng
Gi.ế.t tha cho bõ lòng vàng thời thôi.
Sanh từ nghe phán mọi lời
Đòi tù họ Lý đến nơi đan đình.
Sanh rằng: Khéo thực là anh!
Tội trời phụ nghĩa bạc tình chẳng oan.
Lý Thông thẹn mặt hổ han
Cúi đầu chẳng dám kêu van một lời.
Viện vương mắng: Lý Thông ôi!
Không Sanh, mày chết bỏ đời Miếu-sơn.
Làm sao phụ nghĩa vong ân.
Tranh công rồi lại ra phần bạc đen!
Ấy là phạm tội một phen
Công tìm công chúa mày liền lại tranh.
Ví (?) chàng ăn ở hẹp tình
Tội ngươi đã đáng tan tành thịt xương.
Tha cho trở lại quê hương.
Cũng may mà có lời chàng mới tha.
Thông nghe bái tạ bước ra
Quan quân sỉ hổ, người ta chê cười
Mẹ con bị nhục thương ôi!
Ngọc hoàng ngự phán kim giai tức thời.
Kíp sai ngũ bộ thiên lôi.
Đằng vân giá vũ đến nơi lạ dường.
Mẹ con về đến giữa đường
Thiên lôi ngũ bộ đánh nhường cả hai.
Cho hay những kẻ phi loài
Người dù không giết thì trời chẳng tha. (1600)
Triệu hồn hai mẹ con ra
Ngọc hoàng truyền chỉ đem ra tức thì.
Mấy lời phán tỏ một khi:
Mày trên dương thế ở thì chẳng hay.
Cùng người làm bạn không ngay.
Bắt mày hóa kiếp làm rày bọ hung.
Làm người bạo ngược hai lòng
Hành, tàng đã thấu công đồng sát tri.
Viện vương phán bảo triều nghi
Truyền làm sính lễ vậy thì hợp duyên.
Sanh bèn bái tạ điện tiền
Cùng nàng công chúa hợp duyên vui vầy;
Cầm quyền việc nước ra tay
Thăng quan, xá thuế, cùng rày tù tha.
Miếu-sơn lại lập một tòa
Thờ Trăn tinh đấy thực là anh linh.
Động-sơn lại lập một thành
Thờ Xà tinh đấy anh linh khác rày.
Đoạn thôi lại lập đàn chay
Tế thiên, Địa phủ cùng rày Thủy cung
Tạ từ diệu pháp tiên ông
Lại cùng táng lễ báo lòng mẹ cha.



Thạch Sanh (石生) là tên một truyện thơ Nôm Việt Nam, viết theo thể lục bát ra đời vào cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19 do một tác giả khuyết danh và được người dân kể lại dưới nhiều dị bản. Hiện có ít nhất 3 dị bản truyện thơ Thạch Sanh, đều bằng thể lục bát, nhưng trình độ nghệ thuật không đồng đều. Bản có lời văn chải chuốt nhất và được lưu hành rộng rãi nhất, gồm 1.812 câu lục bát và 2 bài thơ đề từ (một bằng chữ Hán, một bằng chữ Nôm). Bản in xưa nhất hiện còn được xuất bản vào năm Duy Tân thứ 6 (1912). Nội dung truyện thơ Thạch Sanh và truyện cổ tích có cùng tên khá giống nhau, nhưng truyện thơ ra đời muộn hơn.

THẠCH SANH TÂN TRUYỆN - Thạch Sanh chơi đàn chữa bệnh cho công chúa(Truyện dã sử đời vua Hùng thứ chín)Sanh từ đến ở ngụ...
05/08/2026

THẠCH SANH TÂN TRUYỆN - Thạch Sanh chơi đàn chữa bệnh cho công chúa
(Truyện dã sử đời vua Hùng thứ chín)

Sanh từ đến ở ngục u
Trong lòng cũng chẳng giận thù cùng ai. (1400)
Nhân khi vắng vẻ thảnh thơi
Chàng bèn mới hỏi rằng ai lạ lùng?
Quân rằng: Quốc tế quận công
Chính danh tên gọi Lý Thông thực người.
Sanh nghe quan nói đầu đuôi.
Biết rằng Thông thực là người bất nhân!
Biết mà lòng chẳng oán hờn
Mặc ai vô nghĩa, bất nhân cũng đành.
Biết mà lòng chẳng phàn nàn
Lấy đàn mới gẩy nhặt khoan tính tình
Đàn kêu nghe tiếng nên xinh
Đàn kêu: tang tịch, tình tinh, tang tình
Đàn kêu: ai chém Trăn tinh
Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?
Đàn kêu: ai chém Xà vương?
Đem nàng công chúa triều đường về đây?
Đàn kêu: hỡi Lý Thông mày!
Cớ sao phụ nghĩa lại rày vong ân?
Đàn kêu: sao ở bất nhân?
Biết ăn quả lại quên ân người trồng!
Đàn kêu năn nỉ trong lòng
Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.
Đàn kêu: trách Hán quên Hồ
Trách Tần quên Sở, trách Ngô quên Tề
Đàn kêu thấu đến cung Phi
Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa!
Nàng đương rầu rĩ mặt hoa
Tiếng đàn lừng lẫy như là oán ân;
Khác nào như kẻ phùng xuân
Cười cười, nói nói trước sau trình bày:
Rằng: Đàn ai gẩy đâu đây?
Xin cha đòi lại ngày rày cho con!
Viện vương nghe nói, phút cười
Trong lòng hớn hở mừng vui nào tày.
Rằng: Từ phải nạn đến nay
Làm sao con cứ chẳng hay nói mà?
Làm cho chua xót lòng cha
Cầu trời khấn phật kể đà hết hơi.
Hay là nghe tiếng đàn người
Thì con phải nói khúc nhôi cha tường.
Nàng nghe bày tỏ mọi đường,
Rằng: Người đàn ấy thực chàng cứu con.
Dưới hang đã tỏ lòng son:
Rằng về loan phượng kết đôi duyên vàng.
Lý Thông bạc ác phụ phàng
Cửa hang lấp lại tìm đường tranh công.
Vì con lâu chẳng thấy chồng
Trong lòng luống những giận lòng câm đi.
Nghe lời con nói một khi
Lệnh truyền nội giám tức thì đòi ngay. (1450)
Lý Thông nghe tiếng đàn rày
Bảo: Đừng gẩy nữa mà mày chết tươi!
Sanh rằng: Nói cũng nực cười
Tôi buồn, tôi gẩy đàn chơi chút mà.
Dù rằng chết cũng nên ma, (1450)
Được về thượng giới cũng là qui tiên.
Thị thần bèn bước đến liền.
Trình Thông mới nói việc viên gẩy đàn:
Tôi xin lĩnh lại đền vàng
Vào chầu để đức thiên nhan ngài đòi.
Thông nghe, vâng lệnh cứ lời
Giao tù, bụng những thở dài mà lo.
Sanh từ bước đến triều đô
Lần qua cửa tía, bước vô đền vàng.
Còn xa, chưa tỏ mặt nàng
Đến gần, công chúa thấy chàng mừng vui:
Kể từ gắn bó kết đôi
Đến nay tôi những ngậm ngùi toan lo.
Lòng tôi trăm mối tơ vò
Nghĩ rằng xa cách Việt, Hồ đôi nơi.
Nhân sao anh được tái hồi
Sự tình xin tỏ khúc nhôi vân mòng?
Chàng đương nghĩ ngợi, nói cùng:
Hãy khoan, xin kể vân mòng cho hay.
Viện vương phán bảo niềm tây:
Chẳng hay quê quán chàng rày nơi nao?
Cửa nhà, cha mẹ thế nào?
Căn do tình tự làm sao phải bày
Xuân thu tuổi đã bao rày?
Tính danh vốn gọi tên này là chi?
Nghe lời Sanh mới tâu quì
Xin bày tình tự vân vi mọi lời:
Cao-bình chốn ấy quê tôi.
Mẹ cha nay đã chầu trời một khi.
Tên tôi xin kể vân vi:
Thạch Sanh tên đặt vậy thì chẳng sai.
Xuân thu tuổi mới mười hai.
Bóng đa chốn ấy hôm mai bạn cùng.
Ngày thì luyện tập đao cung
Cứ đi kiếm củi non Bồng hôm mai.
Lý Thông chàng mới gặp tôi.
Kết làm bằng hữu định lời đệ huynh.
Dặn tôi, chàng bảo đi canh
Chẳng là chàng phải nộp mình miếu trung
Trăn tinh mới gọi Lý Thông
Vậy nên tôi phải giao công nhọc lòng.
Tôi bèn chuyển lực uy hùng
Trăn tinh bị phải búa đồng chết ngay!
Đầu trăn cho gã khi nay
Mà gã nói dối vua rày vẫn nuôi! (1500)
Bảo tôi đi trốn một nơi
Chẳng ngờ, chàng nộp đan đài lấy công
Vua phong cho chức quận công
Thì tôi cũng chẳng oán lòng trách chi.
Oán ân cũng chả làm gì
Củi than lại cứ sớm khuya việc thường.
Chẳng ngờ công chúa tòa chương
Bị con yêu Mãng xà vương bắt rày.
Tôi liền trông thấy nó bay
Giương cung mới bắn nó rày ngã ra.
Gớm thay phép tắc yêu xà!
Bỏ tên lại cắp vượt hòa xuống hang.
Tôi theo thẳng đến cửa hang
Đã trông thấy nó đem nàng xuống ngay
Tôi bèn trở lại bằng nay
Hay đâu vua lại bắt rày Thông đi.
Tìm tôi, Thông mới tỉ tê, (?)
Ân cần một dạ, thề nghi nặng lời.
Thấy chàng nói thảm ngùi ngùi
Nghĩ mình cũng ở đất trời, đất vua;
Cho nên chẳng ngại công phu
Dặn dò sau trước, nhỏ to một lời:
Đưa nàng lên khỏi vừa rồi
Cửa hang chàng lấp, chẳng thời có thương
Tôi bèn chuyển lực uy dương
Phép làm biến hóa Xà vương bắt rày.
Trông lên đá đã lấp đầy
Giận mình bèn mới phá rày dưới hang.
Thấy chàng thái tử Long đường
Bị con yêu Mãng xà vương bắt rày.
Hãm trong cũi sắt khốn thay!
Giương cung, bèn bắn phá rày cũi ra.
Chàng bèn mời xuống thủy hà
Tâu cùng Thủy tế vua cha được tường.
Thủy tế cầm lại cung chương
Cho đi khám xét ngục trường các cung.
Ngục tù đông đã nên đông
Tù oan thì giải, tù công thì hành.
Trở về, lại gặp yêu tinh
Được nhờ pháp bảo tiên linh yểm trừ
Nên vua Thủy chiếu bấy giờ
Phong làm Quốc trạng thủy hà Long cung.
Cho đàn trả nghĩa, đền công
Đưa đường, rẽ nước, dương cung ra về.
Lên bờ từ đó một khi
Bóng đa chốn ấy vẫn nghề củi than.
Đêm ngày luyện tập cung tên
Quả không biết bạc, biết vàng là đâu!
Xin vua rộng xét đuôi đầu
Tha cho khỏi tội, dám hầu sai ngoa. (1550)
Ngự nghe khi ấy phán ra
Lệnh truyền cởi trói cho mà Thạch Sanh;
Liền một bước lại đan đình
Truyền làm yến đãi Thạch Sanh bấy giờ.
Tiệc đương yến ẩm say sưa
Châu phê hạ chiếu bấy giờ sắc phong
Ban cho hai chức quận công
Trừ yêu hai chức, thần thông hai quyền
Gả nàng công chúa hợp duyên
Phong làm Quốc tế cầm quyền quốc gia
Chàng vâng bái tạ vua cha
Tay cầm chiếu chỉ vào tòa một khi.



Thạch Sanh (石生) là tên một truyện thơ Nôm Việt Nam, viết theo thể lục bát ra đời vào cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19 do một tác giả khuyết danh và được người dân kể lại dưới nhiều dị bản. Hiện có ít nhất 3 dị bản truyện thơ Thạch Sanh, đều bằng thể lục bát, nhưng trình độ nghệ thuật không đồng đều. Bản có lời văn chải chuốt nhất và được lưu hành rộng rãi nhất, gồm 1.812 câu lục bát và 2 bài thơ đề từ (một bằng chữ Hán, một bằng chữ Nôm). Bản in xưa nhất hiện còn được xuất bản vào năm Duy Tân thứ 6 (1912). Nội dung truyện thơ Thạch Sanh và truyện cổ tích có cùng tên khá giống nhau, nhưng truyện thơ ra đời muộn hơn.

Ảnh: tranh Đông Hồ tứ bình câu chuyện Thạch Sanh

THẠCH SANH TÂN TRUYỆN - Thạch Sanh bị vu oan(Truyện dã sử đời vua Hùng thứ 9)Này đoạn trong miếu yêu tinhĐền đài phá tán...
04/08/2026

THẠCH SANH TÂN TRUYỆN - Thạch Sanh bị vu oan
(Truyện dã sử đời vua Hùng thứ 9)

Này đoạn trong miếu yêu tinh
Đền đài phá tán, bùa linh yểm trừ
Ngẩn ngơ ở bãi ở bờ
Cơ hàn đói khát thực là khốn thay!
Ngày ngày thơ thẩn ăn mày
Đêm thì ăn trộm của rày thôn dân;
Bắt gà, bắt chó kiếm ăn
Làm cho hủy hoại thôn dân ngày ngày.
Mãng xà hồn cũng ghê thay!
Khốn cùng ăn những thủa nay ngô đồng.
Cùng nhau ăn trộm làm xong
Bắt gà bắt chó khắp vùng thôn dân.
Làm cho chó cắn ầm ầm
Thôn dân xơ xác nhiều phần khốn thay!
Một đêm thanh vắng gió mây.
Xà tinh bèn mới gặp rày Trăn tinh;
Cùng nhau mới hỏi sự tình:
Chẳng hay sở ngụ quê thành đâu ta?
Làm sao ngao ngán xót xa
Thì anh nói hết thực thà ta hay
Nghe lời Trăn mới trình bày:
Quê tôi thời ở ngày rày Miếu sơn (?);
Có lầu có các cung chương
Bạc vàng cũng đủ mọi đường hẳn hoi.
Mỗi năm phải nộp một người.
Tháng ngày no đủ vui chơi bảo đình
Hay đâu gặp đứa anh linh
Nó bèn đấu trận tung hoành với tôi
Phép mầu nó thực không hai
Vậy nên tôi phải lạc loài đến đây
Nói thôi mới hỏi rằng nay:
Thế thì quê quán anh rày ở đâu?
Nhân sao xin nói gót đầu
Thì anh tỏ bảo tôi hầu được hay.
Xà tinh mới nói khi nay:
Quê tôi chính thực ở rày Động-sơn (?) (1300)
Thiên thành cao rộng một hang
Ra vào đài, các, cung chương bời bời.
Dạo tìm thiên hạ khắp nơi
Tìm người mà bắt được thời khiếp uy.
Bị thằng mặt đỏ tài kỳ
Mày xanh biêng biếc nó thì đánh tôi.
Vậy nên thân phải lạc loài
Bắt gà bắt chó rông rài cho qua.
Nghe lời Trăn cũng nói ra:
Ấy tháng ngày trước nó đà đánh tôi.
Bây giờ thực đã rõ mười
Đinh ninh hai mặt một lời tri chu
Âu là ta quyết trả thù
Gieo oan cho nó để vua bắt rầy.
Xà tinh mới hỏi khi nay:
Vậy thì tên tuổi nó rày là chi?
Chẳng hay nó ở quê gì?
Trả thù ta biết lấy chi báo cùng?
Trăn rằng: Anh chớ ngại ngùng
Để tôi liệu kế vân mòng cho hay.
Tên nó là Thạch Sanh nay
Cửa nhà chẳng có ở rày bóng đa.
Nó thì không mẹ không cha
Anh em chẳng có, chẳng hòa vật chi
Việc làm nào có khó gì
Biến vào kho nội trộm thì của vua.
Chạy ra rồi lại chạy vô
Để quân canh biết tri hô ngày rày
Xà tinh khen: Trí giỏi thay!
Mưu kia Gia Cát, trí nay Phượng Sồ
Hai hồn khi ấy vào kho
Cùng nhau lấy hết cả đồ kim ngân.
Trở đi, trở lại tần ngần
Cho quân canh biết dời chân ra ngoài;
Gốc cây, trông thấy nằm hoài
Bảo nhau bắt lấy nó thời chẳng sai.
Thạch Sanh mới hỏi một hai
Thưa rằng: Các chú bắt ai vậy mà?
Bảo rằng: Sao dám vào tòa
Bạc vàng trộm lấy vậy mà trốn đây?
Sanh rằng: Việc ấy lạ thay!
Thế mà các chú bắt rày làm chi?
Bảo tôi, tôi sẽ theo đi
Phỏng như trộm cắp vậy thì cỏ chăng?
Quân rằng: Này bạc, này vàng
Mày còn biến trá nói năng chi rày?
Sanh rằng: Như vậy oan thay!
Vốn tôi vẫn ở xưa nay thật thà.
Việc này thôi hẳn oan ta
Chịu gông, khi ấy về tòa Viện vương. (1350)
Bằng này của cải bạc vàng
Quân vào thưa hết mọi đàng được hay:
Canh ba đường thuở khuya rày
Thấy thằng mặt đỏ, xanh mày vào kho;
Trộm toàn vàng bạc đủ no
Chúng tôi bắt được đem vô nộp trình
Thông nghe hết tỏ chân tình
Chắc rằng hẳn chú Thạch Sanh đó rày.
Nhân sao vào được mới hay
Khen cho phép tắc thằng này cũng ghê!
Dạy đem giam Ngục Lại lê
Canh cho nghiêm mật chớ hề hở hang.
Vâng lời Thông dạy, liền giam
Đêm ngày tra khảo, nỗi chàng mà thương!
Ngục quan thét mắng đã vang
Nào là cha mẹ, quê hương chốn nào?
Truyền đem giam lại cho tao.
Tấn tra mới hỏi rằng: Nào tiền canh?
Sanh rằng: Ta có một mình
Quê hương thì ở Cao-bình, đường xa.
Thuở nay vốn ở cội đa
Mẹ cha chẳng có, cửa nhà cũng không.
Tiền thì chẳng có một đồng
Đêm ngày kiếm củi làm cùng kiếm ăn.
Ví bằng có nói dối chăng
Này dao, này búa, này rằng cung tên;
Này là cái đàn tam huyền
Lấy chi thì lấy nhưng tiền thì không
Sai quân tước lấy cái cung
Ba đời nhà nó tham cùng hơn ai!
Mó vào thì rụng rời tay!
Dẫu mà muốn lấy khó nay được toàn!
Ngục quan nghe nói mừng rơn.
Lấy dao, lấy búa, lấy đàn vân vi.
Vừa thò tay mó một khi
Ai ngờ một lũ đều thì ngã ra!
Ngục quan bèn giận những là
Bước vào đỡ lấy thấy lòa con ngươi
Quan quân thấy sự lạ đời
Bước vào tâu hết mọi lời quì thưa.
Thông rằng: Bay cứ canh giờ
Để tao sớ tấu vậy mà giết đi.
Vâng lời Thông nói một khi
Về nhà mới bảo: vậy thì nghiêm canh
Lý Thông ngồi nghĩ một mình:
Nếu mà tâu, sợ sự mình tỏ ra.
Chẳng bằng khâm mệnh quốc gia
Chờ ba ngày nữa đem ra xử tù




Thạch Sanh (石生) là tên một truyện thơ Nôm Việt Nam, viết theo thể lục bát ra đời vào cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19 do một tác giả khuyết danh và được người dân kể lại dưới nhiều dị bản. Hiện có ít nhất 3 dị bản truyện thơ Thạch Sanh, đều bằng thể lục bát, nhưng trình độ nghệ thuật không đồng đều. Bản có lời văn chải chuốt nhất và được lưu hành rộng rãi nhất, gồm 1.812 câu lục bát và 2 bài thơ đề từ (một bằng chữ Hán, một bằng chữ Nôm). Bản in xưa nhất hiện còn được xuất bản vào năm Duy Tân thứ 6 (1912). Nội dung truyện thơ Thạch Sanh và truyện cổ tích có cùng tên khá giống nhau, nhưng truyện thơ ra đời muộn hơn.

Address

Tay Ho

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đại Việt Thần Thoại posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share