19/08/2026
81 PHƯƠNG THANG TRỊ MẤT NGỦ (PHẦN 3)
Ở những phần trước, chúng ta đã đi qua các phương thuốc cổ phương, các phương thang kinh điển. Để tiếp tục, xin giới thiệu với mọi người về các phương thang và phương hướng trong dtri Thất miên của các Quốc y đại sư
PHƯƠNG 21: Bán hạ khô thảo tiễn (Chu Lương Xuân) —— Điều hòa âm dương trị chứng mất ngủ dai dẳng
Đại sư Chu Lương Xuân cho rằng, âm dương mất điều hòa, khí cơ nghịch loạn do các bệnh lý Can mạn tính gây ra là bệnh cơ quan trọng của chứng mất ngủ dai dẳng, không thể chỉ dùng phép dưỡng Tâm an thần đơn thuần mà đạt hiệu quả. Bán hạ khô thảo tiễn gồm: Khương bán hạ 12g, Hạ khô thảo 12g, Ý dĩ nhân 60g (dùng thay Truật mễ), Trân châu mẫu 30g (sắc trước).
- Phân tích đặc sắc: Hạ khô thảo đắc khí chí dương mà sinh trưởng, Bán hạ đắc khí âm mà sinh trưởng, hai vị thuốc này phối hợp với nhau thuận theo quy luật âm dương tiêu trưởng, quả là cách phối ngũ tuyệt diệu hợp với thiên thời. Ý dĩ nhân dùng thay thế Truật mễ, giúp kiện Tỳ thẩm thấp, hơn nữa lại dùng liều cao nhằm trị tận gốc nguồn sinh đờm đục. Trân châu mẫu bình Can tiềm dương, dẫn hỏa đang phù việt được đi xuống. Phương này đối với những người phụ thuộc thuốc ngủ lâu ngày, thường có thể giúp giảm dần liều lượng thuốc Tây.
- Cách dùng: Sắc nước ngày 1 thang, chia làm 2 lần uống ấm, uống liên tục 2 tuần là một liệu trình.
- Cấm kỵ: Người Tỳ Vị hư hàn, tiêu chảy cần giảm liều Ý dĩ nhân; phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.
- Chỉ định: Mất ngủ dai dẳng, mất ngủ mức độ nặng thể âm dương mất điều hòa do bệnh lâu ngày.
PHƯƠNG 22: Ích khí an thần phương (Đặng Thiết Đào) —— Tỳ Vị là nguồn sinh hóa của khí huyết
Đại sư Đặng Thiết Đào luận trị chứng mất ngủ từ Tỳ Vị, cho rằng "Tỳ Vị hư thì chín khiếu không thông", khí huyết sinh hóa thiếu hụt thì Tâm thần mất đi sự nuôi dưỡng. Ích khí an thần phương gồm: Hoàng kỳ 30g, Đảng sâm 15g, Bạch truật (sao) 12g, Phục linh 15g, Toan táo nhân (sao) 20g, Viễn chí (chích) 10g, Long nhãn nhục 10g, Chích cam thảo 6g.
- Phân tích đặc sắc: Trọng dụng Hoàng kỳ 30g để bổ Tỳ ích khí, Đặng lão cho rằng khí vượng thì sinh huyết, huyết sung mãn thì thần yên. Toàn phương bám sát bệnh cơ Tâm Tỳ lưỡng hư, nhưng không câu nệ vào nguyên phương Quy tỳ thang, cách phối ngũ súc tích, liều lượng khá cao, đặc biệt thích hợp cho người già cơ thể suy nhược. Đặng lão nhấn mạnh khi uống thuốc cần đồng thời điều chỉnh ăn uống, tiết chế suy nghĩ (bớt lo âu tư lự) để trợ giúp sức thuốc.
- Cách dùng: Sắc nước ngày 1 thang, uống ấm vào sáng và tối.
- Cấm kỵ: Người âm hư hỏa vượng, đàm nhiệt nội thịnh thận trọng khi dùng.
- Chỉ định: Người già cơ thể suy nhược, mất ngủ do suy nghĩ lo âu quá độ, suy nhược thần kinh.
PHƯƠNG 23: Hóa ứ an thần phương (Nhan Đức Hinh) —— Dùng phép "Bình hành" trị mất ngủ
Đại sư Nhan Đức Hinh sáng lập ra lý luận "Bình hành" (衡法), cho rằng bệnh lâu ngày đi vào lạc mạch, ứ huyết cản trở bên trong là bệnh cơ quan trọng của chứng mất ngủ dai dẳng. Hóa ứ an thần phương gồm: Đào nhân 10g, Hồng hoa 6g, Xích thược 12g, Xuyên khung 10g, Đan sâm 15g, Sài hồ 6g, Toan táo nhân (sao) 20g, Dạ giao đằng 30g.
- Phân tích đặc sắc: Nhan lão nhận định "một vị Đan sâm công hiệu ngang bài Tứ vật", phối hợp cùng Đào nhân, Hồng hoa giúp hoạt huyết mà không làm tổn thương huyết; Sài hồ sơ Can lý khí, khí hành thì huyết hành; Dạ giao đằng trọng dụng 30g, vừa dưỡng Tâm an thần lại vừa hoạt huyết thông lạc. Phương thuốc này khi áp dụng cho chứng mất ngủ dai dẳng có biểu hiện lưỡi tím tối, mạch sáp trệ, thường chỉ dùng ba đến năm thang là thấy chuyển biến.
- Cách dùng: Sắc nước ngày 1 thang, uống trước khi ngủ 1 giờ.
- Cấm kỵ: Phụ nữ mang thai, kinh nguyệt ra nhiều, mắc các bệnh lý dễ chảy máu tuyệt đối cấm dùng.
- Chỉ định: Mất ngủ mức độ nặng thể bệnh lâu đi vào lạc mạch, ứ huyết làm tắc nghẽn lạc mạch, mất ngủ sau chấn thương.
PHƯƠNG 24: Hóa đàm an thần phương (Chu Trọng Anh) —— Mất ngủ do đàm nhiệt chữa từ Vị
Đại sư Chu Trọng Anh cho rằng, chứng mất ngủ thể đàm nhiệt nội nhiễu phần nhiều liên quan đến việc ăn uống không điều độ, Vị phủ tích nhiệt, nên phép điều trị phải coi trọng cả thanh hóa đàm nhiệt và hòa Vị an thần. Hóa đàm an thần phương gồm: Khương bán hạ 12g, Trần bì 10g, Phục linh 15g, Trúc nhự 10g, Chỉ thực 10g, Hoàng liên 5g, Toan táo nhân (sao) 20g, Viễn chí (chích) 10g, Chích cam thảo 6g.
- Phân tích đặc sắc: Phương này thực chất là bài Hoàng liên ôn đởm thang gia thêm Toan táo nhân, Viễn chí. Chu lão nhấn mạnh sự phối hợp giữa Bán hạ và Hoàng liên, tân khai khổ giáng (dùng vị cay để mở, vị đắng để giáng), rất giỏi trong việc thanh trừ đàm nhiệt ở trung tiêu; Toan táo nhân tuy là thuốc thiết yếu để dưỡng Tâm an thần, nhưng trong chứng đàm nhiệt thì liều dùng nên cao, lấy cái ý "trong thanh có dưỡng". Trên lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân béo phì, viêm trào ngược thực quản.
- Cách dùng: Sắc nước ngày 1 thang, uống ấm sau bữa ăn.
- Cấm kỵ: Tỳ Vị hư hàn, cơ thể không có đàm nhiệt thì cấm dùng.
- Chỉ định: Mất ngủ thể béo phì đàm thấp, lo âu kèm mất ngủ, mất ngủ do trào ngược thực quản.
PHƯƠNG 25: Hóa thấp an thần phương (Lộ Chí Chính) —— Thấp trọc khốn trở, thanh dương không thăng lên được
Đại sư Lộ Chí Chính chuyên nghiên cứu sâu về các bệnh do thấp, ông cho rằng thấp trọc cản trở bên trong, thanh dương không thăng lên được là bệnh cơ mất ngủ thường gặp ở vùng phương Nam và trong mùa mưa dầm. Hóa thấp an thần phương gồm: Hoắc hương 10g, Bội lan 10g, Thương truật (sao) 10g, Phục linh 15g, Trần bì 10g, Toan táo nhân (sao) 15g, Viễn chí (chích) 10g, Chích cam thảo 6g.
- Phân tích đặc sắc: Hoắc hương, Bội lan mang tính thơm để hóa thấp (phương hương hóa thấp) nhằm đánh thức Tỳ (tỉnh Tỳ); sức làm khô thấp, vận hóa Tỳ của Thương truật mạnh hơn Bạch truật; Phục linh, Trần bì giúp kiện Tỳ thẩm thấp hóa đàm. Toàn phương lấy hóa thấp làm chính, an thần làm phụ, thể hiện tư tưởng học thuật "thấp đi thì thần tự yên" của Lộ lão. Sau khi uống thuốc, thường thấy rêu lưỡi dần sạch đi, cảm giác nặng đầu (đầu như bị trùm kín) giảm bớt, giấc ngủ theo đó cũng được cải thiện.
- Cách dùng: Hoắc hương, Bội lan cho vào sắc sau, sắc nước ngày 1 thang.
- Cấm kỵ: Người âm hư hỏa vượng, miệng khô ít tân dịch thận trọng khi dùng.
- Chỉ định: Mất ngủ thể thấp trọc trong mùa mưa dầm, mất ngủ kèm cảm giác đầu nặng trĩu.
PHƯƠNG 26: Sơ Can an thần phương (Lý Chấn Hoa) —— Lựa chọn đầu tay cho chứng Can uất khí trệ
Đại sư Lý Chấn Hoa luận trị chứng mất ngủ từ Can, cho rằng cảm xúc không được như ý, Can khí uất kết là yếu tố khởi phát của chứng mất ngủ. Sơ Can an thần phương gồm: Sài hồ 10g, Bạch thược 15g, Hương phụ 10g, Uất kim 10g, Toan táo nhân (sao) 20g, Bá tử nhân 15g, Phục linh 15g, Chích cam thảo 6g.
- Phân tích đặc sắc: Lý lão rất giỏi dùng cặp đối dược Hương phụ và Uất kim; sức hành khí của Hương phụ rất mạnh, công hiệu giải uất của Uất kim rất rõ rệt, hai vị phối hợp giúp khai uất tán kết. Bạch thược nhu Can giảm co thắt, phòng ngừa tính cay nóng làm khô của Sài hồ, Hương phụ gây tổn thương phần âm. Lâm sàng thường áp dụng cho những người có tính cách hướng nội, gặp chuyện dễ buồn bực uất ức, đặc biệt thích hợp với nữ giới bị mất ngủ nặng hơn vào giai đoạn trước kỳ kinh nguyệt.
- Cách dùng: Sắc nước ngày 1 thang, uống ấm trước khi ngủ.
- Cấm kỵ: Người âm hư hỏa vượng thì gia thêm Đan bì, Chi tử; phụ nữ có thai thận trọng khi dùng Uất kim.
- Chỉ định: Mất ngủ do cảm xúc bùng phát, mất ngủ do căng thẳng, mất ngủ tuổi mãn kinh thể Can uất.
PHƯƠNG 27: Bổ Thận an thần phương (Trương Kỳ) —— Thận tinh hao hụt, bể tủy thiếu hụt
Đại sư Trương Kỳ cho rằng, Thận chứa tinh sinh ra tủy để thông lên não, Thận tinh hao hụt thì bể tủy thiếu hụt, thần minh mất đi sự nuôi dưỡng mà sinh ra mất ngủ. Bổ Thận an thần phương gồm: Thục địa 20g, Sơn thù du 12g, Sơn dược 15g, Câu kỷ tử 15g, Toan táo nhân (sao) 20g, Ngũ vị tử 10g, Sinh long cốt 30g (sắc trước), Chích cam thảo 6g.
- Phân tích đặc sắc: Ba vị Thục địa, Sơn thù du, Câu kỷ tử giúp bổ Thận lấp đầy tinh (điền tinh); Toan táo nhân, Ngũ vị tử dưỡng Tâm thu liễm tinh thần; Long cốt trọng trấn tiềm dương. Phương thuốc này trong bổ có liễm, trong liễm có trấn, cực kỳ ăn khớp với bệnh nhân Thận hư kèm theo đi tiểu đêm nhiều lần, ngủ hay mộng mị di tinh.
- Cách dùng: Sắc nước ngày 1 thang, uống ấm vào sáng và tối.
- Cấm kỵ: Đàm thấp nội thịnh, đang bị cảm mạo phát sốt (ngoại cảm phát nhiệt) cấm dùng.
- Chỉ định: Người già mất ngủ do Thận hư, mất ngủ do lao tâm lao não quá độ, mất ngủ thể Thận tinh hao hụt.
PHƯƠNG 28: Tư âm an thần phương (Cừu Phái Nhiên) —— Dùng song song cả phép Giao thái và Tư âm
Đại sư Cừu Phái Nhiên trị chứng mất ngủ thể âm hư hỏa vượng, thường khéo léo kết hợp dùng chung bài Giao thái hoàn và phép tư âm. Tư âm an thần phương gồm: Sinh địa 15g, Mạch đông 12g, Huyền sâm 10g, Toan táo nhân (sao) 20g, Bá tử nhân 15g, Hoàng liên 5g, Nhục quế 1g (tán nhỏ uống cùng), Chích cam thảo 6g.
- Phân tích đặc sắc: Hoàng liên, Nhục quế chỉ dùng với liều lượng nhỏ, lấy ý "thiếu hỏa sinh khí”, dùng ngọn lửa nhỏ này để dẫn nguyên dương quay về đúng vị trí; Sinh địa và Huyền sâm giúp tư âm giáng hỏa, Mạch đông thanh Tâm trừ phiền. Cừu lão nhấn mạnh, liều lượng Nhục quế tuyệt đối không được vượt quá một phần năm liều của Hoàng liên, nếu không sự ấm nóng làm khô quá mức sẽ phản tác dụng làm tổn thương âm dịch.
- Cách dùng: Sắc nước ngày 1 thang, bột Nhục quế hòa uống trước khi ngủ.
- Cấm kỵ: Tỳ Vị hư hàn, đại tiện lỏng cấm dùng.
- Chỉ định: Mất ngủ dai dẳng thể âm hư hỏa vượng, bốc hỏa vã mồ hôi mất ngủ ở tuổi mãn kinh.
PHƯƠNG 29: Nhu Can an thần phương (Hà Nhậm) —— Phụ nữ mất ngủ chữa từ Can
Đại sư Hà Nhậm tinh thông phụ khoa, cho rằng nữ giới lấy Can làm gốc (tiên thiên), các quá trình kinh nguyệt, đới hạ (khí hư), mang thai, sinh đẻ đều làm tổn thương Can huyết, Can huyết thiếu hụt thì hồn không yên vị (hồn bất quy xá). Nhu Can an thần phương gồm: Bạch thược 20g, Đương quy 10g, Toan táo nhân (sao) 15g, Phục thần 15g, Uất kim 10g, Hợp hoan bì 15g, Chích cam thảo 6g, Hoài tiểu mạch 30g, Đại táo 10 quả.
- Phân tích đặc sắc: Phương này là sự kết hợp giữa bài Cam mạch đại táo thang và các vị thuốc giúp nhu Can dưỡng huyết thanh nhiệt. Trọng dụng Bạch thược 20g để làm mềm Can (nhu Can), giảm co thắt; Hợp hoan bì giải uất an thần, là vị thuốc thiết yếu trị các bệnh lý do cảm xúc; Hoài tiểu mạch dưỡng Tâm trừ phiền. Hà lão đặc biệt giỏi trong việc điều chỉnh thuốc theo chu kỳ kinh nguyệt của nữ giới, trước kỳ kinh thì tăng liều Uất kim, Hợp hoan bì; sau kỳ kinh thì tăng liều Đương quy, Bạch thược.
- Cách dùng: Sắc nước ngày 1 thang, uống ấm.
- Cấm kỵ: Đàm thấp nội thịnh, rêu lưỡi dày nhầy thận trọng khi dùng.
- Chỉ định: Nữ giới tuổi mãn kinh, mất ngủ thể Can uất huyết hư.
PHƯƠNG 30: Hòa Vị an thần phương (Từ Cảnh Phiên) —— Vị êm thì ngủ yên
Đại sư Từ Cảnh Phiên chuyên nghiên cứu các bệnh về Tỳ Vị, đề xuất quan điểm học thuật "Vị khí hòa thì Thần an". Hòa Vị an thần phương gồm: Khương bán hạ 10g, Trần bì 10g, Phục linh 15g, Chỉ xác 10g, Toan táo nhân (sao) 15g, Thần khúc (sao cháy) 12g, Mạch nha (sao) 15g, Chích cam thảo 6g.
- Phân tích đặc sắc: Từ lão cho rằng câu nói "Dạ dày không êm thì ngủ không yên" không chỉ đơn thuần nói đến chứng đầy bụng khó tiêu, mà sự thông giáng Vị khí thất thường cũng có thể gây ra mất ngủ. Bán hạ, Chỉ xác giúp hòa Vị giáng khí nghịch; Thần khúc cháy, Mạch nha sao giúp tiêu thức ăn hòa Vị; Toan táo nhân ninh Tâm an thần. Phương thuốc này mang lại hiệu quả cực kỳ rõ ràng đối với người bị viêm dạ dày mạn tính, rối loạn tiêu hóa chức năng kèm theo mất ngủ.
- Cách dùng: Sắc nước ngày 1 thang, uống sau bữa tối 1 giờ.
- Cấm kỵ: Người âm hư hỏa vượng, Vị âm thiếu hụt thận trọng khi dùng.
- Chỉ định: Khó tiêu, mất ngủ do thức ăn tích trệ tại vùng dạ dày, viêm dạ dày mạn tính kèm mất ngủ.
TIỂU KẾT
Mười kinh nghiệm phương của mười vị Quốc y đại sư mỗi người có một trọng tâm riêng: Chu Lương Xuân luận trị từ sự thăng giáng của âm dương; Đặng Thiết Đào, Lộ Chí Chính, Từ Cảnh Phiên lập cước (đứng trên góc độ) từ Tỳ Vị; Nhan Đức Hinh luận trị từ ứ huyết; Chu Trọng Anh chủ công vào đàm nhiệt; Lý Chấn Hoa, Hà Nhậm coi trọng Can uất; Trương Kỳ, Cừu Phái Nhiên đào sâu vào Thận hư. Tưởng chừng như mỗi nhà lập nên một phái riêng, nhưng thực chất là "khác đường mà chung đích" — đều xoay quanh bệnh cơ cốt lõi là "tạng phủ mất điều hòa - thần không yên vị", chỉ là góc nhìn vào bệnh khác nhau mà thôi. Đọc phương thuốc của các đại sư, nên học lấy cái sự tinh tế trong biện chứng, sự chuẩn xác trong dùng thuốc, chứ không nên áp dụng máy móc dập khuôn.