Vairocana Thiền Tự

Vairocana Thiền Tự The center focuses on the practice of Vipassana meditation along with teaching the suttas/sutras and Buddhist services.

Trích trong Hồi Ký của Sư Khánh HỷTôi gặp Ngài Kim Triệu khi tôi còn rất nhỏ. Từ năm 1956 tôi đã hành thiền Minh Sát với...
06/27/2026

Trích trong Hồi Ký của Sư Khánh Hỷ

Tôi gặp Ngài Kim Triệu khi tôi còn rất nhỏ. Từ năm 1956 tôi đã hành thiền Minh Sát với Hòa thượng Giới Nghiêm tại Tam Bảo Tự, Đà Nẵng và được học kinh kệ với Ngài Kim Triệu.

Sau này tôi theo Ngài Kim Triệu hành thiền và phụ giúp Ngài hướng dẫn thiền nhiều năm. Tôi học hỏi được nhiều ở Ngài từ những lời nói cho đến thân giáo của Ngài.

Một trong các đức tính tốt đẹp của Ngài mà tôi cố gắng học hỏi là sự bình thản đối với những gì đang xảy ra chung quanh. Tôi chưa bao giờ thấy Ngài nổi giận. Ngài là vị thầy rất nhiều từ ái và tận tâm. Ngài muốn trao truyền tất cả những hiểu biết và giảng dạy cho tôi. Ngài mong muốn hướng dẫn cho tôi những gì tốt đẹp mà Ngài đã học hỏi.

Khi Ngài dạy Kinh Pāli cho tôi với một đoạn kinh ngắn bốn dòng, Ngài đã bỏ ra hai đến ba tiếng đồng hồ, kiên trì sửa giọng, sửa cách phát âm cho tôi và các huynh đệ của tôi. Mỗi lần tôi trình pháp với Ngài, Ngài chăm chú lắng nghe. Tôi có cảm tưởng như là Ngài đang nghe một vị pháp sư hay là một vị thầy giảng dạy. Ngài chịu khó lắng nghe dầu tốn nhiều thì giờ đi nữa, Ngài cũng không màng. Sau đó Ngài chỉ dẫn cho tôi từng li, từng tí một.

Một hôm nọ, khi tôi trình pháp với Ngài, trình pháp xong, Ngài giảng giải kỹ càng cho tôi rồi. Nhưng có lẽ, Ngài thấy tôi với gương mặt buồn –Ngài đọc được ý nghĩ của tôi – là tôi chưa tiến bộ như ý tôi mong muốn, nên sau khi đã cho những người khác trình pháp xong . Ngài đi kinh hành quanh vườn và nhìn thấy tôi đang tưới những dãy hoa hồng tận cuối vườn, Ngài chậm rãi đến bên tôi khích lệ và an ủi tôi : “Con cứ cố gắng hành thiền đi, bằng lòng với những gì mình đang đạt ở hiện tại; bằng lòng những gì trong hiện tại không có nghĩa là con dừng lại mà con cố gắng tinh tấn. Đó mới gọi là biết đủ, bằng lòng với hiện tại nhưng với quyết tâm tinh tấn để tiến bộ hơn.” Rồi Ngài nói thêm: “Ngày xưa Sư cũng ở tình trạng này đến tám năm lận, con cứ cố gắng tinh tấn, thoải mái thì con sẽ đạt được kết quả tốt.” Câu nói của Ngài đã khích lệ tôi rất nhiều trong việc đào luyện tâm.

Năm 1982 tôi xuất gia gieo duyên và hành thiền dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Taungpulu và Ngài. Một lần nọ tôi hỏi Ngài: “Bạch Ngài, con hành thiền đến kiếp nào mới giác ngộ.” Ngài nói một câu chắc nịch: “Kiếp này chứ kiếp nào.” Lần đầu tiên tôi được nghe một câu nói của vị thầy một cách quả quyết như vậy. Những lần trước, khi tôi đặt cùng câu hỏi đó với các vị khác, chưa có một vị nào nói kiên định, rõ ràng. Nhiều vị còn nói: “Thời này là thời mạt pháp, tu đến đâu thì được đến đó thôi, đừng có mong chi giác ngộ.”

Ngài thường nói những câu rất là nhỏ nhẹ. Lần này câu nói cũng nhỏ nhẹ thôi, nhưng tôi cảm thấy giống như Ngài đang quát la tôi, giống như Ngài trách cứ tôi: “Tại sao không có sự tự tin vào công việc hành thiền của mình?” Câu nói của Ngài đập mạnh vào tâm tôi, rồi từ đó tôi tinh tấn hành thiền hơn. Đây cũng là một yếu tố mạnh mẽ, giúp tôi quyết định xuất gia luôn và xin Ngài làm thầy tế độ.

Bởi thế nên tôi thọ Giới Sa Di với Ngài Sīlānanda, nhưng thọ Đại Giới Tỳ Khưu với Ngài Kim Triệu. Đó là dấu ấn không phai của tôi đối với Ngài trên bước đường tu tập, mà cũng là hành trang sách tấn tôi mỗi khi gặp trở ngại.

Gần đây, khi thấy cách Ngài giải quyết một vấn đề tế nhị giữa người tu sĩ và cư sĩ, tôi cũng rút ra được một kinh nghiệm và thấy được tâm từ của Ngài trải rộng như thế nào. Có một vị sư được Ngài gởi đến để lo cho một ngôi chùa nọ. Một số Phật tử ở ngôi chùa đó không bằng lòng với vị sư, bởi vì vị sư có nhiều nhiệt tâm muốn sửa chữa và xây dựng thêm cho chùa được khang trang, nhưng vị sư đó không biết rằng muốn sửa chữa gì trong chùa cũng phải xin phép. Cho nên vị ấy làm cho các Phật tử–nhất là trong Ban Bảo Trợ–sợ hãi. Nhiệt tâm của nhà sư muốn làm thêm gây ra sự bất hòa giữa Sư và Ban Bảo Trợ. Vì thế, ban bảo trợ yêu cầu Ngài gởi tới một vị sư khác. Ngài đồng ý lời thỉnh cầu của Phật tử và bảo tôi mua vé máy bay cho Sư về. Tôi nói với vị sư đó: “Thôi, Sư hãy về lại chùa mình đi. Sư đừng nghĩ Sư có lỗi gì cả, đừng nghĩ Ban Bảo Trợ có lỗi gì cả. Cứ nghĩ rằng mình là hạt giống tốt nhưng trồng mảnh đất đó không thích hợp. Giống như hạt giống nên trồng ở xứ lạnh mà ta lại trồng ở xứ nóng nên không trổ hoa, kết trái vậy.”

Nhưng vị sư đó không đồng ý, mà nói rằng: “Con không có lỗi gì cả mà tại sao Ngài nghe theo lời thiện tín, Ngài đưa con về. Con yêu cầu Ngài có một buổi họp toàn thể Phật tử, để biết ai trái, ai phải, trước khi quyết định đưa con về.”

Tôi thuật lại với Ngài ý kiến của vị ấy, Ngài đã khuyên rằng: “Nếu làm ra lẽ thì vị ấy sẽ thắng, nhưng chúng ta là một nhà sư–mình không tranh thắng bại với ai, cũng không cần minh chứng là mình không có lỗi –dầu cho mình thắng đi nữa, thì cũng không đẹp. Hãy nhẹ nhàng ra đi.” Vị này nghe theo cách giải quyết đầy từ ái của Ngài, nên hoan hỷ rời khỏi ngôi chùa ấy. Trong tận đáy lòng, Ngài cũng biết đây là một vị sư tốt, có đầy nhiệt tâm, khó có được trong hàng ngũ Tăng chúng.

Sau đó, Ngài đã giúp đỡ tài vật và khích lệ để vị ấy đi đến một nơi mới –thuận duyên hơn trong công việc truyền bá Giáo Pháp. Cho đến bây giờ, mặc dầu Ngài đã lớn tuổi, Ngài vẫn tích cực tạo nên các cơ sở, thiền viện và chùa để thế hệ Tăng Ni sau này thuận duyên trong việc quang huy Phật giáo. Đó bởi vì Ngài biết rằng với đức độ và uy tín của Ngài, việc kiến tạo thiền viện, chùa chiền có phần dễ dàng hơn những người học trò của Ngài. Tấm lòng bi mẫn của Ngài đáng cho thế hệ Tăng Ni và Phật tử noi gương để tiếp bước trên hành trình đi đến giác ngộ giải thoát...

Trích trong : Có Bấy Nhiêu Đó Thôi
Tỳ Kheo Khánh Hỷ
Chia sẻ bởi: SỐNG TRONG ĐẠO

Công việc của người tu tập là đoạn trừ phiền não (kilesa).Đó là sự đoạn trừ tham (lobha), sân (dosa) và si (moha) bằng c...
06/27/2026

Công việc của người tu tập là đoạn trừ phiền não (kilesa).
Đó là sự đoạn trừ tham (lobha), sân (dosa) và si (moha) bằng cách nương tựa vào năng lực của vô tham (alobha), vô sân (adosa) và vô si (amoha) được nuôi dưỡng từ Phật, Pháp và Tăng. Người hành giả lấy các thiện pháp ấy làm chỗ nương tựa cho tâm, rồi dùng chính năng lực ấy để chuyển hóa tham, sân và si của mình.

Tuy nhiên, tham, sân và si của mỗi người không tồn tại biệt lập. Chúng luôn liên hệ với tham, sân và si của những người có quan hệ với mình.
Vì vậy, ngoài phiền não của bản thân còn có phiền não của gia đình, của bạn bè, của cộng đồng và của tập thể mà mình đang sống cùng.

Trong một gia đình sẽ có những phiền não của gia đình.
Trong nhóm bạn sẽ có những phiền não của bạn bè.
Và trong một Thiền viện Thabarwa cũng luôn tồn tại những tham, sân và si của những người thuộc về tổ chức ấy.

Đối với một vị thiền sư, điều quan trọng là phải nuôi dưỡng năng lực nhẫn nhục, buông xả và thấu hiểu. Những phẩm chất ấy càng mạnh bao nhiêu thì càng có khả năng noi theo phẩm chất của Đức Phật bấy nhiêu.

Vì thế, người tu tập dần dần buông bỏ đời sống thế tục để tiếp nhận phẩm chất của Phật, Pháp và Tăng. Càng buông bỏ các pháp thế gian, càng chuyên tâm lắng nghe Chánh pháp, suy niệm Chánh pháp và thực hành bố thí (dāna), trì giới (sīla) và tu tập (bhāvanā). Mục tiêu là có thể xả ly tất cả những gì mình đang nắm giữ, không còn lưu giữ điều gì vì sự chấp thủ.

Điều đó cũng có nghĩa là không còn sử dụng đời mình như một người lệ thuộc vào gia đình, quyền lực, tài sản hay chính các phiền não của bản thân. Trái lại, nỗ lực sử dụng đời mình để phụng sự Phật, Pháp và Tăng.

Vì vậy, thay vì cố gắng kiểm soát mọi sự việc bên ngoài, người tu chỉ chuyên tâm điều phục tâm. Thay vì đặt trọng tâm vào sự thanh tịnh của hình thức hay vật chất, điều quan trọng nhất là sự thanh tịnh của nội tâm.

Nói một cách dễ hiểu hơn, tại Thiền viện Thabarwa, chúng tôi không chủ trương giải quyết tất cả các vấn đề của thiền viện, cũng không chủ trương giải quyết từng vấn đề của từng hành giả. Điều mà chúng tôi hướng đến là tháo gỡ sự chấp thủ đối với chính những vấn đề ấy.

Ở đâu có tập thể thì ở đó tất yếu sẽ có công việc, có sự vụ và có những vấn đề phát sinh. Điều đó không thể tránh khỏi. Ngay cả mỗi cá nhân cũng đã có những vấn đề riêng của mình. Vì vậy, khi nhiều người cùng sống trong một cộng đồng thì những sự việc phát sinh lại càng nhiều hơn.

Sẽ luôn tồn tại những vấn đề của từng cá nhân cũng như những vấn đề liên quan đến tập thể. Không ai có thể ngăn cản hoàn toàn điều đó.

Ngay từ thời Đức Phật, khi Tăng đoàn được hình thành, Đức Thế Tôn đã chế định Luật tạng (Vinaya) chính vì trong đời sống của Tăng đoàn đã phát sinh những vấn đề cần được giải quyết. Điều ấy cho thấy ngay cả trong thời Đức Phật cũng không phải không có những khó khăn như vậy.

Bởi thế, các thiền viện ngày nay cũng không thể tránh khỏi việc có những vấn đề tương tự. Có thể chỉ vì người ta không công khai nên người ngoài tưởng rằng không có - nhưng thực tế thì chúng vẫn luôn tồn tại.

Sự tranh giành không chỉ xuất hiện trong chính trị. Ngay trong tôn giáo cũng vẫn có sự tranh chấp về chùa viện, trách nhiệm hay quyền điều hành. Đó cũng là một phần của đời sống thế gian.

Sự tranh giành thường xuất hiện ở những tổ chức đã có danh tiếng. Đối với những nơi được nhiều người biết đến, luôn có người muốn đứng ra đảm nhận vai trò lãnh đạo hoặc điều hành. Đó là một hiện tượng tự nhiên của đời sống thế gian.

Trong quá trình hoằng dương Chánh pháp cũng vậy. Có những nơi ít người sẵn sàng gánh vác trách nhiệm, nhưng khi một nơi trở nên nổi tiếng thì lại có nhiều người muốn tham gia và đảm nhiệm.

Trong lịch sử truyền thống Ledi, các cư sĩ như U Ba Khin hay S. N. Goenka đã có nhiều thành tựu trong việc truyền bá pháp hành. Trong khi đó, hàng xuất gia thường chú trọng nhiều hơn đến phương diện Kinh điển và học thuật, còn việc phổ biến Pháp hành đôi khi chưa được mở rộng tương xứng. Vì thế, có những giai đoạn việc hoằng Pháp chưa phát triển rộng rãi.

Đối với những thiền viện nổi tiếng hiện nay cũng vậy. Giữa các vị xuất gia, giữa các ni sư, hoặc giữa các nhóm hành giả, đôi khi vẫn có những biểu hiện cạnh tranh. Đó là điều xảy ra ở phương diện cá nhân, chứ không phải bản chất của Chánh Pháp.

Đối với tôi, những điều ấy đều được chấp nhận như một phần của quy luật nhân quả.

Nếu trước đây mình từng tranh giành với người khác thì khi đến lúc mình bị người khác tranh giành lại cũng là điều không thể tránh khỏi. Nghiệp quả là điều ngay cả Đức Phật cũng không phủ nhận.
Vì thế, không ai có thể đứng ngoài quy luật ấy.

Cho nên, điều tôi làm không phải là tìm cách ngăn chặn sự tranh giành, mà là điều phục tâm.

Tôi không cố kiểm soát hành động của người khác. Điều tôi hướng đến là điều phục tâm muốn tranh giành.

Đối với những người chưa hiểu, tôi chỉ cố gắng giải thích để họ có thể hiểu và chấp nhận. Còn mong muốn rằng mình sẽ không bao giờ bị người khác tranh giành thì đó là điều không thực tế.

Thực ra, cái tâm muốn được yên ổn cũng vẫn là một tâm chưa thật sự yên ổn. Chính vì còn bám chấp vào sự bất an nên mới sinh khởi mong muốn được an ổn.
Nếu thường xuyên hướng tâm đến những đối tượng an tịnh thì tâm cũng sẽ dần trở nên an tịnh.

Có câu: “Thân ở nơi bụi rậm, tâm ở cõi thanh cao”.
Dù thân đang ở trong bụi rậm cũng không nhất thiết phải lấy bụi rậm làm đối tượng của tâm.
Cũng vậy, dù đất nước còn nhiều bất ổn, ta vẫn có thể không để tâm mãi đến những điều bất ổn ấy, mà hướng tâm đến Đức Phật, đến Chánh pháp, đến Tăng đoàn thanh tịnh làm đối tượng quán niệm.
Đó cũng chính là điều tôi thực hành.

Vì vậy, điều tôi chú trọng chỉ là điều phục tâm và làm cho tâm được thanh tịnh.

Nếu nói rằng: “Người này xấu, người kia không tốt, hãy đuổi họ ra khỏi thiền viện”
thì đó chỉ là làm cho con người bên ngoài có vẻ thanh sạch, chứ chưa phải là làm cho tâm thanh tịnh.

Điều tôi hướng đến không phải là xua đuổi những con người bất thiện, mà là chuyển hóa những tâm bất thiện.
Bởi nếu tâm chưa thanh tịnh thì người ấy cũng không thể duy trì công việc lâu dài.

Nếu sân hận quá mạnh, họ sẽ không thể tiếp tục làm việc.
Nếu tham ái quá lớn, họ cũng không thể gánh vác lâu dài.
Nếu si mê quá dày, không chịu học hỏi và không thể hiểu được Chánh Pháp thì công việc ấy cũng không thể tiếp tục.

Sự hiểu biết ấy chỉ có được nhờ thực hành.
Không thực hành thì cũng không thể thật sự hiểu.

Đối với tôi, chính vì thực hành như thế nên hiểu được như thế, và cũng chính vì hiểu được như thế nên tiếp tục thực hành như thế.
Sự hiểu biết ấy phát sinh từ kinh nghiệm tu tập.

Khi làm việc với đại chúng thì sẽ hiểu những vấn đề của đại chúng.
Khi gắn bó với Chánh Pháp.
thì sẽ hiểu những vấn đề của Chánh Pháp.
Nếu không trực tiếp dấn thân thì sẽ không thể hiểu được.
Ngay cả khi tham gia các hoạt động vì hòa bình cũng vậy. Chỉ khi trực tiếp thực hiện mới dần hiểu được bản chất của những vấn đề liên quan.

Ngay trong đời sống tu học cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
Trong các truyền thống khác nhau như Mogok, Mahāsi, Ledi hay những truyền thống khác, nơi các đệ tử vẫn có thể xuất hiện tham, sân và si.
Khi số lượng người càng đông thì sự cạnh tranh giữa các hành giả, giữa các vị thầy, hoặc giữa những nhóm tu học cũng dễ phát sinh hơn.

Đó là điều không thể ngăn cản.
Tôi cũng không chủ trương ngăn cản.

Con người chưa buông bỏ được tâm cạnh tranh thì những hiện tượng ấy vẫn sẽ tiếp tục xuất hiện.
Chính vì vậy mới cần có sự hướng dẫn của Chánh Pháp. Nếu chỉ dựa vào sức mình thì rất khó buông bỏ được sự chấp thủ ấy.

Không chỉ anh chị em trong gia đình cạnh tranh với nhau.
Bạn bè cũng cạnh tranh.
Trong bất kỳ ngành nghề nào cũng đều có sự cạnh tranh.
Không chỉ các vận động viên, mà nghệ sĩ, doanh nhân, chính trị gia… đều phải đối diện với điều ấy.
Đó là điều không thể ngăn cản.

Điều quan trọng là học cách chấp nhận.
Phải biết chấp nhận sự cạnh tranh.
Biết chấp nhận cả thất bại lẫn thành công.
Nếu không thể hiểu và chấp nhận thì sẽ rất khó sống an ổn.

Người hiểu được Chánh pháp sẽ thấy rằng:
Sau thất bại sẽ có thành công.
Sau thành công lại có thất bại.
Không điều gì tồn tại mãi mãi.
Thắng và thua chỉ là những hiện tượng vô thường của đời sống.

Ngay cả cái gọi là thành công cũng không phải là thành công tuyệt đối. Một người chỉ chiến thắng những người cùng tham gia cuộc thi với mình. Ngoài cuộc thi ấy vẫn còn vô số người khác.
Không thể nói rằng mình đã chiến thắng tất cả.

Vì thế, nếu không hiểu bản chất của sự việc thì con người sẽ lầm tưởng thành công là điều tuyệt đối, và thất bại cũng là điều tuyệt đối.

Nhưng dưới ánh sáng của Chánh Pháp, cả thành công lẫn thất bại đều chỉ là những hiện tượng tạm thời, không phải chân lý tối hậu.

Khi hiểu được bản chất của thắng và thua thì cũng có nghĩa là đã giải quyết được vấn đề ngay từ nơi nhận thức.

Đỗ một kỳ thi chưa phải là kết thúc.
Có được một công việc cũng chưa phải là kết thúc.
Rồi vẫn có thể mất việc.
Có sức khỏe hôm nay nhưng ngày mai vẫn có thể mất sức khỏe.
Mọi thứ đều vô thường.

Điều quan trọng không phải là nắm giữ những thành tựu ấy, mà là buông bỏ sự chấp thủ đối với chúng.
Ngay cả những bất hòa giữa người với người cũng không tồn tại mãi mãi.

Vì thế, tôi không dành toàn bộ thời gian để giải quyết từng mâu thuẫn cụ thể. Bất hòa vốn là điều tự nhiên của đời sống. Dù người khác còn bất hòa với nhau thì mình vẫn tiếp tục làm những việc cần làm.

Ngay cả khi tôi giảng Pháp cũng vậy. Số người chưa hiểu thường nhiều hơn số người hiểu. Điều đó đã luôn như vậy từ những ngày đầu.
Tuy nhiên, tôi không vì đa số chưa hiểu mà ngừng thuyết Pháp. Nếu người chưa hiểu có thể dần dần hiểu được thì đó chính là kết quả của Chánh Pháp.

Khi thực hành đúng thì Chánh Pháp cuối cùng sẽ hiển lộ.
Trong cuộc đối đầu giữa Chánh Pháp (Dhamma) và Phi Pháp (Adhamma), cuối cùng Chánh Pháp vẫn là điều tồn tại.

Nếu trong hiện tại dường như phi Pháp đang chiếm ưu thế thì điều ấy cũng chỉ là tạm thời.
Bản chất của phi Pháp vốn không phải chân lý.
Cho nên cái gọi là “thành công của phi Pháp” cũng không phải là thành công chân thật.

Ví dụ, có những người sống trong thiền viện nhưng không thực hành, không giữ kỷ luật, không chịu tiếp nhận lời khuyên. Nhìn bề ngoài, người ta có thể nghĩ rằng thiền viện đang suy thoái và phi Pháp đang thắng thế.
Nhưng đối với tôi, tất cả chỉ là hiện tượng nhất thời.
Theo thời gian, mọi việc đều thay đổi.

Trong suốt lịch sử của Thiền viện Thabarwa, đã có rất nhiều người từng gây ra khó khăn. Đến một giai đoạn nào đó, họ đều thay đổi hoặc tự rời đi.
Không ai có thể suốt đời sống trong xung đột với tất cả mọi người. Đó chỉ là một giai đoạn trong cuộc đời của họ.

Người luôn kiên trì làm điều thiện thì vẫn có thể tiếp tục làm điều thiện. Còn người tạo bất thiện nghiệp thì cuối cùng chính nghiệp ấy sẽ khiến họ không thể tiếp tục công việc của mình.
Qua nhiều năm, tôi đã chứng kiến điều ấy lặp đi lặp lại. Vì thế, tôi không cần phải dành quá nhiều công sức để xử lý từng trường hợp.
Nhân quả tự vận hành theo quy luật của nó.

Tất cả những điều ấy sau này sẽ được ghi lại trong hệ thống giáo dục của Thiền viện Thabarwa.

Đối với người trong thiền viện, tôi không cần che giấu sự thật. Trong quá khứ đã từng có nhiều trường hợp như vậy.
Có người không tiếp nhận lời khuyên, làm theo ý mình, gây khó khăn cho tập thể. Nhưng rồi theo thời gian, mọi việc cũng tự kết thúc.
Lại có những người thường xuyên bất hòa với mọi người xung quanh. Cuối cùng, họ cũng tự rời đi theo nhân duyên của mình.
Tôi đã chứng kiến rất nhiều trường hợp như thế.

Nếu một người khiến người khác không thể sống yên ổn thì chính bản thân họ cũng sẽ không thể sống yên ổn.
Nếu khiến người khác không còn chỗ dung thân thì rồi chính mình cũng sẽ không còn chỗ dung thân.
Đó là quy luật của nhân quả.

Điều chúng tôi làm không phải là tìm cách xua đuổi người khác. Chúng tôi cố gắng tạo điều kiện để mọi người đều có cơ hội thực hành và làm việc.
Trong những trường hợp đặc biệt, đôi khi một người tạm thời không được tiếp tục công việc.
Nhưng những trường hợp như vậy rất hiếm.
Thông thường, chúng tôi vẫn để họ tiếp tục. Nếu họ làm sai thì chính hậu quả của việc làm ấy sẽ trở lại với họ. Nếu sai lầm quá lớn thì tự nhiên họ sẽ không còn có thể tiếp tục công việc nữa.

Bản thân một thiền viện đã có Chánh Pháp làm phận sự hộ trì. Chúng tôi chỉ thực hành và truyền dạy giáo Pháp của Đức Phật. Việc người khác tiếp nhận hay không là nhân duyên của họ. Điều tôi tin tưởng là Chánh Pháp tự nó có năng lực.
Nếu tôi đồng ý cho một người ở lại thiền viện thì điều đó cũng chỉ thành tựu khi người ấy có đủ thiện nghiệp.
Nếu tôi giao cho một người công việc thì họ cũng chỉ có thể tiếp tục nếu thiện nghiệp của chính họ còn nâng đỡ.

Ngay cả bản thân tôi cũng vậy.
Nếu không được Chánh Pháp nâng đỡ thì tôi cũng không thể tiếp tục công việc này.

Trong rất nhiều năm qua, tôi vẫn luôn làm việc theo nguyên tắc ấy. Cho đến hôm nay vẫn có những người hành xử sai lầm.

Có người khi được nhiều người biết đến liền sinh tâm nghĩ rằng:
“Đây là đệ tử của ta”
“Điều ta giảng là đúng”
“Ta có nhiều người theo”
Rồi từ đó các vấn đề bắt đầu phát sinh.
Điều ấy xảy ra cả ngoài xã hội lẫn trong thiền viện.

Nếu người ấy biết nhìn lại và sửa đổi thì vẫn có thể tiếp tục con đường lâu dài.
Nếu không, chính lỗi lầm và bất thiện nghiệp của họ sẽ trở thành nguyên nhân gây khổ cho chính họ.

Vì hiểu nguyên lý ấy nên trong mọi công việc, tôi luôn cố gắng giải quyết bằng Chánh Pháp chứ không dựa trước hết vào quyền lực hay tiền bạc.
Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, khi chưa có thuốc điều trị hữu hiệu và cũng chưa có vắc-xin, chúng tôi đã mở Bệnh viện Pháp bảo Thabarwa để chăm sóc bệnh nhân.
Điều chúng tôi dựa vào trước hết vẫn là Chánh Pháp.
Mọi việc đều có hồ sơ và chứng cứ rõ ràng.

Trong khoảng ba tháng, bệnh viện tiếp nhận khoảng một nghìn năm trăm bệnh nhân, trong đó khoảng năm trăm người qua đời.
Đó là những sự kiện có người biết, có hồ sơ lưu trữ và có thể kiểm chứng.
Chính vì thế, nhiều người đã thấy rằng năng lực của Chánh Pháp không chỉ là điều để tin tưởng, mà còn có thể được kiểm chứng bằng thực tế.
Nhờ vậy, mô hình Bệnh viện Pháp bảo đã dần được đón nhận và phát triển ở nhiều nơi như Việt Nam, Hoa Kỳ, Malaysia và các quốc gia khác.

Tại Thái Lan hiện nay cũng đã bắt đầu hình thành những mô hình như thiền viện kết hợp chăm sóc sức khỏe hay Bệnh viện Chánh pháp (Dhamma Hospital). Tuy mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu, nhưng đó đã là những bước đi đầu tiên.

Những gì chúng tôi đang thực hiện nhìn bề ngoài có vẻ không có gì đặc biệt, bởi phương pháp này không vận hành theo cách thông thường của thế gian. Nhiều khi người khác không biết mình đang làm gì, và đến khi kết quả xuất hiện thì cũng không nhận ra thành tựu ấy được tạo nên từ chính những việc làm âm thầm đó.

Tuy nhiên, chính phương pháp ấy mới thật sự vững chắc và đáng tin cậy. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào phương thức thế tục thì chưa hẳn đã có được sự ổn định lâu dài.

Dĩ nhiên, khi cần thiết chúng tôi vẫn sử dụng những phương tiện của thế gian. Chẳng hạn, trong các lễ tác pháp kiết giới (sīmā), mọi người cùng chung sức thực hiện và phát trực tiếp để mọi người đều biết. Nhưng phần lớn những việc chúng tôi làm lại diễn ra lặng lẽ. Có khi người khác tưởng như chúng tôi không làm gì, nhưng theo đúng nhân duyên, những điều cần thành tựu vẫn tự thành tựu; những gì cần phát triển vẫn tự phát triển. Thiền viện Thabarwa Thanlyin cũng được hình thành và phát triển theo nguyên lý ấy.

Vì vậy, khi sống trong thiền viện, điều cần buông bỏ là tâm muốn kiểm soát người khác. Người tu không nên chỉ chú trọng kiểm soát thân nghiệp (kāya-kamma) hay khẩu nghiệp (vacī-kamma) của người khác, mà trước hết phải điều phục ý nghiệp (mano-kamma) của chính mình.

Điều phục ý nghiệp không có nghĩa là điều phục tâm người khác, mà là điều phục chính tâm mình.

Nếu người khác vì không thể tiếp nhận lời khuyên mà nổi nóng, la hét hoặc gây náo loạn thì đó là việc của họ. Phần mình không nên đáp trả bằng sân hận, không nên lớn tiếng hay gây náo loạn theo họ. Chỉ cần giữ gìn và điều phục chính mình.

Làm được như vậy tức là đã chiến thắng hoàn cảnh ấy. Ngược lại, nếu hai bên đều tranh cãi, sự việc sẽ ngày càng nghiêm trọng. Khi mỗi bên đều có người đứng về phía mình, xung đột sẽ lan rộng thành mâu thuẫn tập thể và vấn đề sẽ càng khó giải quyết hơn.

Bởi vậy, nếu không thể điều phục tâm người khác thì hãy điều phục tâm mình.
Nếu không thể giáo hóa người khác thì hãy giáo hóa chính mình.
Nếu người khác không thấy lỗi của họ thì hãy quán xét lỗi của chính mình.
Đó là phương pháp giúp chuyển hóa cả sự thiếu hiểu biết của bản thân lẫn những khó khăn trong các mối quan hệ xung quanh.

Việc phát trực tiếp (livestream) các hoạt động của thiền viện chủ yếu nhằm mục đích giáo dục. Chỉ nhìn một lần thì rất khó hiểu được ý nghĩa và lợi ích của phương pháp này. Vì vậy, chúng tôi công khai cả những điều thuận lợi lẫn những điều còn khó khăn, để mọi người tự quan sát và suy ngẫm. Tin hay không tin là quyền của mỗi người, nhưng chân lý vốn tự thân đã có sức mạnh.

Chúng tôi minh bạch những vấn đề đang tồn tại, những công trình còn dang dở và những thiếu sót cần khắc phục. Theo thời gian, các vấn đề dần được giải quyết; những người từng gây nhiều khó khăn rồi cũng rời đi hoặc thay đổi, trong khi những người thiện lành tiếp tục đến thay thế.

Các công trình cũng lần lượt được hoàn thành theo nhân duyên, như chánh điện bốn tầng, Bệnh viện Chánh pháp bốn tầng và nhiều công trình khác.

Hiện nay, thiền viện cũng đang xây dựng tượng Đức Phật nhập Đại Bát Niết-bàn dài 50 feet trên ngọn đồi bên cạnh. Dự kiến phía dưới pho tượng sẽ có không gian để hành giả ngồi thiền. Như vậy, người tu tập không chỉ lễ bái bên cạnh tượng Phật mà còn được hành thiền ngay dưới thân tượng, như đang nương mình dưới bóng mát của Đức Phật.

Đây là một công trình lớn, khó khăn hơn nhiều so với việc tôn trí những pho tượng nhỏ. Tuy nhiên, giá trị của nó nằm ở chỗ bất kỳ ai đi ngang qua cũng có thể chiêm bái.

Hơn nữa, hình tượng Đức Phật nhập Đại Bát Niết-bàn mang ý nghĩa khác với tượng Phật nằm thông thường. Hình tượng ấy khơi dậy saṃvega – cảm thức khẩn thiết trước sự vô thường – nhắc nhở rằng ngay cả Đức Phật cũng đã nhập Đại Bát Niết-bàn. Từ đó, người chiêm bái phát khởi ý thức về tính vô thường của mọi Pháp và tinh tấn hơn trên con đường tu học.

Con người rồi cũng sẽ phải đối diện với cái chết - đó là điều không ai có thể tránh khỏi. Vì thế, trước khi mạng sống chấm dứt, điều quan trọng là phải nỗ lực tạo lập càng nhiều thiện nghiệp và công đức càng tốt.

Với tâm nguyện ấy, chúng tôi khởi công xây dựng tượng Đức Phật nhập Đại Bát Niết-bàn dài 50 feet tại vị trí dễ nhìn thấy bên tuyến đường cao tốc. Đây là một công trình lớn, đòi hỏi nhiều nhân lực, tài lực và thời gian. Nếu chỉ xây dựng một pho tượng Phật ngồi bằng đá cao mười tám feet thì không phải việc quá khó; nhưng đối với một pho tượng dài năm mươi feet thì mọi mặt đều khó khăn hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, khi nhân duyên đầy đủ, công trình ấy sẽ từng bước được hoàn thành. Người phát tâm cúng dường cũng sẽ đến theo nhân duyên của họ.
Có người cúng dường toàn bộ
Có người chỉ góp một phần
Nhưng tất cả đều góp phần làm cho công trình được thành tựu.

Điều quan trọng là công trình ấy không được thực hiện vì lợi ích cá nhân, mà vì lợi ích của số đông. Nếu chỉ để bản thân có nơi lễ bái thì không cần phải xây dựng như vậy, bởi tại Ấn Độ vẫn có thể đến đảnh lễ nơi Đức Phật nhập Đại Bát Niết-bàn. Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện hành hương. Vì thế, nếu tại Myanmar cũng có một nơi để mọi người dễ dàng chiêm bái và khởi tâm tưởng niệm thì đó là điều có lợi ích cho rất nhiều người.

Nhưng điều quan trọng hơn tất cả vẫn là điều phục tâm.
Điều người tu cần kiên trì không phải là theo đuổi kết quả bên ngoài, mà là không ngừng giữ cho tâm được thanh tịnh.

Bản thân tôi vẫn tiếp tục giảng dạy Chánh Pháp. Người nghe hiểu hay chưa hiểu không phải là điều quan trọng nhất.
Chỉ cần còn có cơ hội giảng Pháp thì tôi vẫn tiếp tục giảng
Chỉ cần còn có thể thực hành thì tôi vẫn tiếp tục thực hành.

Người nghe nhiều hay ít cũng không phải điều cốt yếu. Quan trọng là Chánh Pháp vẫn tiếp tục được truyền trao.
Khi không ngừng thực hành thiện pháp, công đức sẽ dần được tích lũy, và nếu thật sự mong cầu sự bình an thì sự bình an ấy cũng sẽ dần thành tựu theo đúng nhân duyên.

Các thiền viện cũng như vậy. Khi được xây dựng tại những nơi thật sự cần thiết và đúng nhân duyên, chúng sẽ tự nhiên phát triển. Chúng tôi không chủ trương tổ chức những cuộc vận động quyên góp rầm rộ, mà chỉ lặng lẽ tiếp tục làm những việc cần làm.

Công việc của chúng tôi là kiên trì giải quyết từng vấn đề, hết việc này đến việc khác, với tinh thần công khai và minh bạch. Đối với công cuộc hòa bình cũng vậy, hễ có cơ hội là chúng tôi gặp gỡ những người có trách nhiệm để trao đổi, trực tiếp cũng như thông qua truyền thông. Việc cần làm còn rất nhiều và dường như không bao giờ chấm dứt.
Tuy nhiên, chính việc làm thiện ấy đã là công đức.

Khi bận rộn với các thiện Pháp thì sẽ không còn thời gian tạo tác các bất thiện Pháp.
Khi chuyên tâm xây dựng hòa bình thì sẽ không còn tham gia vào những việc làm gây bất hòa.
Khi chuyên tâm thực hành Chánh Pháp thì cũng không còn bị cuốn vào những công việc thế tục dễ tạo bất thiện nghiệp.

Trong khi làm việc, nếu có người chỉ trích mình thì hãy nghĩ rằng: “Có lẽ trước đây chính ta cũng từng chỉ trích người khác”.
Nếu có người đối xử thù địch với mình thì hãy nghĩ: “Có lẽ trước đây chính ta cũng từng đối xử như vậy với người khác”.
Với sự hiểu biết ấy, người tu quay trở lại quán xét chính mình.

Nếu cứ nhìn lỗi của người khác thì xung đột sẽ tiếp tục phát sinh. Vì vậy, thay vì nhìn lỗi người khác, hãy nhìn lại lỗi của chính mình. Thay vì cố sửa người khác, hãy sửa chính mình.

Khi tự sửa được lỗi của mình thì cũng góp phần làm giảm bớt những sai lầm chung, bởi bản thân không còn là nguyên nhân tạo thêm xung đột.

Chính vì vậy, chúng tôi chỉ tập trung sửa chữa những thiếu sót trong phạm vi trách nhiệm của mình và giáo hóa những người thuộc trách nhiệm của mình. Đối với những người không thể tiếp nhận bằng lời nói thì chỉ còn cách giáo hóa bằng Chánh Pháp.

Việc thuyết Pháp cũng chính là một phương thức giải quyết vấn đề. Không cần phải xử lý từng người một như một phiên tòa thế tục. Chỉ cần trình bày Chánh Pháp.
Người hiểu thì sẽ hiểu - người chưa hiểu thì rồi sẽ có nhân duyên để hiểu.
Người tiếp nhận thì được lợi ích - người chưa thể tiếp nhận thì vẫn phải tự mình gánh chịu hậu quả từ sự chưa hiểu ấy.

Bản thân tôi chỉ làm tròn trách nhiệm của mình: thực hành điều đã hiểu và truyền trao điều đã thực hành. Người khác có thực hành hay không là quyền lựa chọn của họ.

Những điều này không chỉ dành riêng cho người hành thiền. Dù ở bất cứ lĩnh vực nào, con người cũng đều phải đối diện với những vấn đề của tham - sân - si; với vô minh - nóng vội - tham cầu - bất mãn - lo âu và mọi khổ đau của nội tâm.

Vì thế, điều cần giải quyết trước hết không phải là hoàn cảnh bên ngoài, mà chính là tâm mình.

Đối với tôi, vì đã buông bỏ được thói quen nhìn lỗi người khác nên không còn dành tâm để truy cứu hay kết tội bất kỳ ai.
Ngay cả trong những thời điểm đất nước xảy ra nhiều biến động, khi rất nhiều người cùng lên tiếng chỉ trích và quy trách nhiệm cho nhau, tôi cũng không tham gia vào việc ấy.

Điều quan trọng không chỉ là tự mình không làm điều bất thiện, mà còn là không hùa theo điều bất thiện khi người khác đang làm.
Không chỉ tránh tạo bất thiện nghiệp cho bản thân, mà ngay cả khi người khác tạo bất thiện nghiệp, mình cũng phải giữ được sự tỉnh táo để không bị cuốn theo.
Vì vậy, điều tôi luôn cố gắng gìn giữ là giới (sīla).

Nếu nói rằng mình giữ giới nhưng đồng thời vẫn làm những việc trái với giới thì không thể gọi là giữ giới một cách chân thật.
Giữ giới có nghĩa là không chủ ý tham dự vào những hành động vi phạm giới, cũng không đứng về bất kỳ phía nào của các hành động ấy.
Đó là lập trường mà tôi luôn cố gắng duy trì một cách rõ ràng và nhất quán.

Một khi đã không còn quen nhìn lỗi người khác thì cũng không còn thấy cần phải tìm lỗi nơi họ.
Thực ra, không có việc gì dễ hơn việc tìm ra lỗi của người khác.
Và cũng không có việc gì khó hơn việc nhận ra lỗi của chính mình.

Phần lớn những xung đột của con người đều bắt nguồn từ chỗ chỉ nhìn thấy lỗi của người khác mà không chịu nhìn lại chính mình.
Vì vậy, thay vì nhìn lỗi người khác, hãy quay lại nhìn lỗi của mình.
Thay vì cố sửa người khác, hãy sửa chính mình.

Khi tự sửa được mình thì cũng đồng thời góp phần làm giảm bớt những sai lầm và xung đột chung.
Đó cũng là phương pháp mà chúng tôi áp dụng trong thiền viện - trước hết sửa những thiếu sót thuộc trách nhiệm của mình và giáo hóa những người thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.

Đối với nhiều người, lời nói không đủ để chuyển hóa. Khi ấy, điều còn lại chỉ có thể là giáo hóa bằng Chánh Pháp.

Việc thuyết Pháp chính là một phương thức giải quyết vấn đề. Nếu phải giải quyết từng trường hợp riêng lẻ như một phiên tòa thế tục thì công việc ấy sẽ không bao giờ kết thúc.
Vì thế, chúng tôi chỉ trình bày Chánh pháp.

Người hiểu thì sẽ hiểu.
Người chưa hiểu thì sẽ tiếp tục học hỏi cho đến khi đủ nhân duyên để hiểu.
Người tiếp nhận Chánh pháp sẽ tự mình được lợi ích.
Người không tiếp nhận thì cũng chính mình gánh chịu hậu quả từ sự chưa hiểu ấy.
Không ai có thể làm thay cho người khác.

Về phần mình, tôi chỉ cố gắng sống đúng với điều mình đã hiểu và truyền đạt đúng điều mình đang thực hành.
Nếu người khác thực hành thì họ sẽ được lợi ích.
Nếu họ không thực hành thì tôi cũng không thể thay họ thực hành được.
Như vậy, về phía mình, tôi đã hoàn thành trách nhiệm rồi.

Những điều này không chỉ dành riêng cho người hành thiền. Trong bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống, con người cũng đều phải đối diện với các vấn đề của tham, sân và si. Đó là những biểu hiện của vô minh, của sự nóng vội, tham cầu, bất mãn, lo âu và những khổ đau phát sinh từ tâm.
Bởi vậy, thay vì dành hết thời gian để xử lý các vấn đề bên ngoài, tôi luôn hướng trọng tâm vào việc chuyển hóa những vấn đề của nội tâm.
Đó cũng là điều tôi luôn giảng dạy cho mọi người.

Khi ngày càng nhiều người thực hành theo phương pháp ấy, nhu cầu hệ thống hóa các bài giảng cũng dần hình thành.
Các bài Pháp được biên tập thành sách, rồi từ đó phát triển thành một chương trình giáo dục có hệ thống.
Không phải vì đây là giáo Pháp của riêng tôi.
Đó đều là giáo Pháp của Đức Phật.
Tôi chỉ cố gắng, trong khả năng của mình, truyền đạt lại những lời dạy ấy một cách trung thực.
Các vị thiền sư khác cũng đang làm điều tương tự. Sự khác biệt chỉ nằm ở cách trình bày và mức độ đầy đủ của sự diễn giải.

Sở dĩ con người còn thấy có người để trách cứ là vì vẫn còn thấy có một cái “ta” để bảo vệ.
Khi không còn chấp thủ vào cái “ta”, thì cũng không còn thấy cần phải kết tội bất kỳ ai.

Điều đó không có nghĩa là phủ nhận những hành vi đúng hay sai trên phương diện quy ước của đời sống. Trong việc hướng dẫn đại chúng, vẫn cần nói rằng điều gì nên làm và điều gì không nên làm để mọi người có thể hiểu và thực hành. Nhưng trong nội tâm, người tu không nuôi dưỡng tâm sân hận hay sự chấp trước đối với bất kỳ cá nhân nào.
Đó là hai bình diện khác nhau: phương tiện giáo hóa và sự thật được thể nghiệm trong nội tâm.

Không chỉ riêng một người, mà bất kỳ ai gây khó khăn trong thiền viện cũng đều là cơ hội để quan sát phiền não đang vận hành. Điều đáng quan sát không phải là con người ấy, mà là cách tham, sân và si biểu hiện qua họ.

Ngay cả khi một người không còn nữa thì nếu phiền não vẫn còn, nó cũng sẽ biểu hiện qua một người khác. Theo nghĩa đó, những hoàn cảnh khó khăn cũng là những phép thử.
Nếu ngay cả những thử thách ấy mà còn không thể chịu đựng được thì làm sao biết mình đã thật sự hiểu Chánh Pháp đến đâu?

Phiền não cũng giống như một bài kiểm tra.
Nó làm hiển lộ rằng sự tu tập của mình là chân thật hay chỉ là hình thức.
Nó cho thấy lòng từ bi, sự nhẫn nhục và trí tuệ của mình có thật hay chỉ là điều mình tưởng tượng về bản thân.
Chính nhờ những thử thách ấy mà sự tu tập chân thật mới được bộc lộ. Không có khảo nghiệm thì rất khó biết đâu là chân thật, đâu chỉ là biểu hiện bề ngoài.

Ngay cả bản thân tôi cũng luôn được khảo nghiệm như vậy. Mỗi khi đến một nơi mới, gặp những con người mới, họ đều dùng cách hiểu và tiêu chuẩn của mình để quan sát và đánh giá. Điều đó cũng tự nhiên như việc kiểm tra hộ chiếu khi đi qua cửa khẩu. Người ta cũng sẽ dùng sự hiểu biết của mình để đánh giá Pháp hành và những điều mình giảng dạy.
Không thể yêu cầu họ đừng làm như vậy.

Điều quan trọng không phải là tránh né sự khảo nghiệm, mà là dùng chính những khảo nghiệm ấy để thấy rõ mình còn có thể nhẫn nhục đến đâu, hiểu Chánh Pháp đến đâu và buông xả được đến đâu.
Nếu không thể buông xả thì sẽ rất khó đi lâu dài trên con đường này.
Ngược lại, nếu biết sử dụng mọi thử thách như cơ hội để trưởng thành thì chính những điều tưởng như chướng ngại sẽ trở thành trợ duyên cho sự tu tập.

- Ottamathara Sayadaw -

Address

17019 McLean Road
Pearland, TX
77584

Opening Hours

Tuesday 9am - 7pm
Wednesday 9am - 7pm
Thursday 9am - 7pm
Friday 9am - 7pm
Saturday 9am - 7pm
Sunday 9am - 7pm

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Vairocana Thiền Tự posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Featured

Share