Đông y gia truyền TUỆ TÂM ANH

Đông y gia truyền TUỆ TÂM ANH Nhà thuốc là địa chỉ uy tín về khám chữa bệnh với nhiều kinh nghiệm gia truyền

CÙNG LÀ RA MỒ HÔI NHƯNG CÓ NGƯỜI CẦN BỔ KHÍ, NGƯỜI LẠI CẦN DƯỠNG ÂMTheo Đông y, mồ hôi không đơn thuần chỉ là nước được ...
13/08/2026

CÙNG LÀ RA MỒ HÔI NHƯNG CÓ NGƯỜI CẦN BỔ KHÍ, NGƯỜI LẠI CẦN DƯỠNG ÂM
Theo Đông y, mồ hôi không đơn thuần chỉ là nước được bài tiết ra ngoài. Mồ hôi thuộc tân dịch, có quan hệ mật thiết với khí, huyết và chức năng của tạng phủ.
Đông y có câu:
“Hãn vi Tâm chi dịch” – mồ hôi là dịch của Tâm.
“Hãn huyết đồng nguyên” – mồ hôi và huyết cùng chung nguồn gốc.
Phế chủ bì mao, vệ khí có nhiệm vụ bảo vệ phần biểu và điều hòa sự đóng mở của lỗ chân lông. Khi khí đủ, âm dương điều hòa thì mồ hôi ra đúng lúc, đúng mức. Khi khí suy, âm dịch hao, nhiệt thịnh hoặc thấp nhiệt tích tụ, mồ hôi có thể thoát ra bất thường.
Vì vậy, cùng là ra nhiều mồ hôi nhưng có người cần bổ khí, có người phải dưỡng âm, thanh nhiệt hoặc ôn dương. Muốn phân biệt cần xem mồ hôi xuất hiện khi nào, nóng hay lạnh, trong hay dính, có mùi hay không và cơ thể còn biểu hiện gì đi kèm.
1. Ban ngày ngồi yên vẫn ra mồ hôi – có thể là tự hãn do khí hư
Có người không vận động, thời tiết cũng không nóng nhưng mồ hôi vẫn tự chảy. Chỉ cần đi bộ nhẹ, leo vài bậc cầu thang hoặc làm chút việc nhà là đầu mặt, lưng và ngực đã ướt đẫm.
Tình trạng này thường đi kèm:
• Cơ thể mệt mỏi, chân tay thiếu sức
• Hơi thở ngắn, nói nhỏ và ngại nói
• Sợ gió, dễ cảm lạnh
• Ăn uống kém, sắc mặt nhợt
• Lưỡi nhạt, mạch yếu
Theo Đông y, đây có thể là Phế khí hư, vệ khí bất cố. Khí không đủ sức giữ phần biểu, lỗ chân lông đóng mở thất thường nên tân dịch dễ thoát ra ngoài thành mồ hôi.
Thể này thường cần bổ khí, cố biểu và liễm hãn. Nếu càng xông hơi hoặc tập luyện quá sức, mồ hôi ra thêm thì khí cũng có thể hao thêm, khiến cơ thể ngày càng mệt và dễ nhiễm lạnh.
2. Ngủ mới ra mồ hôi, tỉnh dậy thì giảm – có thể là đạo hãn do âm hư
Đạo hãn là tình trạng mồ hôi xuất hiện trong lúc ngủ, khi tỉnh dậy thường giảm hoặc ngừng. Có người ngủ một đêm mà cổ, lưng và áo gối đều ướt, dù phòng không nóng và chăn không quá dày.
Nếu kèm theo:
• Nóng âm ỉ trong người
• Lòng bàn tay, bàn chân và vùng ngực nóng
• Miệng khô, họng khô, thường khát về đêm
• Bồn chồn, khó ngủ, ngủ không sâu
• Ù tai, đau mỏi thắt lưng
• Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc có vết nứt
Đông y thường nghĩ đến âm hư sinh nội nhiệt. Âm dịch không đủ để chế ước dương, hư nhiệt phát sinh và thúc ép tân dịch thoát ra ngoài khi ngủ.
Trường hợp này cần đi theo hướng tư âm, thanh hư nhiệt và liễm hãn, không nên thấy cơ thể yếu mà vội dùng nhiều sản phẩm bổ dương, trợ hỏa. Dùng đồ quá cay nóng có thể khiến khô miệng, mất ngủ và mồ hôi trộm nặng hơn.
3. Ăn uống là mồ hôi vã đầy đầu mặt – có thể liên quan đến Vị nhiệt
Có người chỉ cần bắt đầu ăn, nhất là khi dùng món cay nóng, nhiều dầu mỡ hoặc uống rượu bia, mồ hôi đã chảy nhiều ở trán, đầu và mặt.
Những biểu hiện thường gặp kèm theo gồm:
• Miệng khô, thích uống nước lạnh
• Nhanh đói, ăn nhiều
• Miệng có mùi, lợi dễ sưng đau
• Đại tiện khô, tiểu vàng
• Lưỡi đỏ, rêu vàng
Theo Đông y, Vị thuộc Dương minh, vốn là nơi nhiều khí, nhiều huyết. Khi Vị nhiệt thịnh, thức ăn đưa vào làm Vị khí hoạt động mạnh, nhiệt theo kinh bốc lên phần đầu mặt và thúc ép tân dịch thoát ra thành mồ hôi.
Thể này cần thanh Vị nhiệt, sinh tân và điều chỉnh ăn uống. Nếu tiếp tục dùng rượu bia, đồ cay, chiên rán hoặc ăn quá no vào buổi tối, nhiệt càng dễ tích tụ.
4. Mồ hôi dính nhớt, có mùi nặng – có thể là thấp nhiệt
Mồ hôi của người thấp nhiệt thường không trong và nhẹ mà dễ có cảm giác dính nhớt, khó chịu, đôi khi mùi khá nặng hoặc làm áo ngả vàng.
Cơ thể có thể xuất hiện thêm:
• Người nặng nề, đầu óc không tỉnh táo
• Ngực bụng đầy tức, ăn uống không ngon
• Miệng đắng hoặc miệng nhớt
• Da dễ nổi mụn, vùng kín ẩm ngứa
• Tiểu vàng, đại tiện dính khó sạch
• Lưỡi đỏ, rêu vàng dày và nhớt
Theo Đông y, thấp có tính nặng và nhớt, nhiệt lại có xu hướng bức tân dịch ra ngoài. Khi thấp và nhiệt kết hợp, mồ hôi thường dính, có mùi và cơ thể luôn cảm thấy bí bách.
Hướng điều chỉnh thường là thanh nhiệt, hóa thấp và kiện vận Tỳ Vị. Tuy nhiên, không phải cứ thấp nhiệt là dùng thật nhiều đồ có tính hàn lạnh. Nếu làm tổn thương Tỳ dương, khả năng vận hóa thủy thấp càng kém, thấp trọc lại dễ tích tụ nhiều hơn.
5. Mồ hôi lạnh, tay chân lạnh – cần phân biệt dương hư
Một số người thường xuyên ra mồ hôi lạnh, sắc mặt nhợt, tay chân lạnh, sợ rét và cơ thể thiếu sức. Nếu tình trạng diễn ra kéo dài, kèm:
• Đau mỏi lưng gối
• Ăn lạnh dễ đau bụng, đi ngoài
• Tinh thần uể oải, thích nằm
• Tiểu trong và nhiều
• Nam giới có thể giảm ham muốn, c.ương không chắc
• Lưỡi nhạt, bệu và ướt
Đông y có thể nghĩ đến dương khí hư suy. Dương khí không đủ để ôn ấm và cố nhiếp tân dịch, khiến mồ hôi thoát ra nhưng cơ thể lại lạnh.
Thể này thường cần ôn dương, ích khí và cố biểu, hoàn toàn khác với đạo hãn do âm hư. Một bên có biểu hiện nóng trong, khô miệng, lưỡi đỏ; một bên lại sợ lạnh, chân tay lạnh và lưỡi nhạt ướt. Nếu không phân biệt rõ mà dùng chung một cách điều chỉnh, cơ thể có thể càng mất cân bằng.
Muốn điều chỉnh mồ hôi, trước hết phải tìm đúng gốc
• Tự hãn do khí hư: bổ khí, cố biểu
• Đạo hãn do âm hư: dưỡng âm, thanh hư nhiệt
• Vị nhiệt: thanh nhiệt, sinh tân
• Thấp nhiệt: thanh nhiệt, hóa thấp
• Dương hư: ôn dương, ích khí
Đó là lý do Đông y luôn phải tứ chẩn hợp tham, xem cả sắc mặt, tiếng nói, cảm giác nóng lạnh, ăn ngủ, đại tiểu tiện, lưỡi và mạch. Chỉ dựa vào một biểu hiện “ra nhiều mồ hôi” thì chưa thể kết luận cơ thể đang hư ở đâu và càng không nên tự dùng thuốc bổ hoặc thuốc cầm mồ hôi.
Ngoài các thể trạng theo Đông y, mồ hôi bất thường còn có thể liên quan đến thuốc đang sử dụng, rối loạn nội tiết, hạ đường huyết, nhiễm trùng hoặc những vấn đề sức khỏe khác. Nếu mồ hôi kéo dài không rõ nguyên nhân, thường xuyên làm ướt đẫm quần áo, hoặc kèm sốt, sụt cân, đau ngực, khó thở và tim đập nhanh, cô bác nên đi khám để tìm nguyên nhân chính xác.

13/08/2026

🔴 Trí Tam Châm
(Thần đình – Bản thần)

ღ sưu tập và tổng hợp : Ths Bs Nguyễn Xuân Hưng

✅Giới thiệu huyệt vị
1. Thần đình
-Vị trí:
Nằm ở vùng đầu, trên đường giữa trước, cách chân tóc trước 0,5 thốn lên trên.
-Chủ trị:
Bệnh vùng đầu, mặt, ngũ quan: đau đầu, mắt đỏ, viêm mũi xoang (tỵ uyên).
Bệnh thần chí: động kinh, cuồng chứng, thất miên, uất chứng.
-Phép châm cứu:
Châm ngang 0,5–0,8 thốn.
-Giải nghĩa huyệt danh:
"Thần" chỉ nguyên thần của não; "Đình" nghĩa là đình đường, nơi cư ngụ. Huyệt là nơi nguyên thần của não cư trú nên được gọi là Thần đình.
Huyệt thuộc mạch Đốc, đồng thời là huyệt giao hội của mạch Đốc với kinh Túc Thái Dương Bàng Quang. Do Đốc mạch và kinh Bàng Quang đều liên hệ với não nên 《Hoàng Đình Trung Cảnh Kinh》 viết:
"Thần đình giả, não thần chi trạch, bảo thân chi đường dã."
(Thần đình là nơi cư ngụ của thần não, là chính điện bảo vệ thân thể.)
Vì vậy đây là huyệt trọng yếu điều trị các bệnh về thần chí và rối loạn chức năng não.
2. Bản thần
-Vị trí:
Từ Thần đình đo ngang ra ngoài 3 thốn, tại điểm nối giữa Thần đình và Đầu duy (Đầu duy nằm ở góc trán, trên chân tóc trước 0,5 thốn, cách đường giữa trước 4,5 thốn), tại vị trí 2/3 trong và 1/3 ngoài của đoạn nối.
-Chủ trị
Bệnh đầu mặt ngũ quan: đau đầu, chóng mặt, hoa mắt.
Bệnh thần chí: động kinh, kinh phong trẻ em, trúng phong.
-Phép châm cứu:
Châm ngang 0,5–0,8 thốn.
-Giải nghĩa huyệt danh:
"Bản" nghĩa là gốc rễ; "Thần" là thần minh. Đây được coi là gốc của nguyên thần, vì vậy gọi là Bản thần.
Huyệt thuộc kinh Túc Thiếu Dương Đởm, đồng thời là huyệt giao hội của kinh Đởm với mạch Dương Duy.
《Hoàng Đế Nội Kinh》 viết:
"Đởm vi trung chính chi quan, chủ quyết đoán; ngũ tạng giai phân chủ thần chí, cố vi thần chi bản."
(Hay: Đởm là cơ quan trung chính, chủ quyết đoán; thần chí của ngũ tạng đều quy về đó, vì vậy gọi là gốc của thần.)
Do nằm cạnh huyệt Thần đình ở vùng trán, gần não bộ nên huyệt chủ trị nhiều chứng bệnh liên quan đến thần minh và hoạt động tinh thần.
✅Phối huyệt và chủ trị
-Trí Tam Châm gồm:
Thần đình
Bản thần trái
Bản thần phải
Ba huyệt đều nằm vùng trán trước, đều mang chữ "Thần", đều là những huyệt quan trọng điều hòa hoạt động thần chí.
Giáo sư Cận Thụy phối hợp ba huyệt có công năng tương đồng nhằm tạo tác dụng hiệp đồng, tăng cường hiệu quả điều trị.
《Hoài Nam Tử – Tinh Thần Huấn》 viết:
"Thần giả, trí chi uyên dã."
("Thần" là nguồn gốc của trí tuệ.)
Vì vậy tổ hợp huyệt này được đặt tên là Trí Tam Châm.
-Chủ trị
Thường dùng điều trị các bệnh liên quan đến thần và trí, như:
Bệnh thần chí
Mất ngủ
Trầm cảm
Lo âu
Rối loạn cảm xúc
Bệnh suy giảm trí năng
Chậm phát triển trí tuệ ở trẻ em
Sa sút trí tuệ người cao tuổi
Trầm cảm sau đột quỵ
Hay quên
Giảm trí nhớ
-Do nằm ở vùng trán, nhóm huyệt này còn dùng điều trị:
Đau đầu vùng trán
Bệnh về mắt
Cơ sở giải phẫu và cơ chế hiện đại
-Y học hiện đại cho rằng thùy trán là vùng phát triển cao cấp nhất của đại não, đảm nhiệm:
tư duy,
tính toán,
lập kế hoạch,
điều hòa cảm xúc,
hành vi xã hội.
-Bên dưới Thần đình và Bản thần là:
cơ trán;
nhánh trán của động mạch và tĩnh mạch thái dương nông;
nhánh ngoài của động mạch và tĩnh mạch trán;
các nhánh của thần kinh trán.
-Châm kích thích nhóm huyệt này có thể tác động lên các neuron của thùy trán, điều hòa hoạt động chức năng vùng não này, từ đó cải thiện:
rối loạn cảm xúc;
suy giảm nhận thức;
giảm trí nhớ;
các rối loạn trí tuệ.
Ghi nhớ nhanh
Hiệp đồng tăng hiệu quả
-Thần đình
→ nơi nguyên thần cư ngụ.
-Bản thần
→ gốc của thần minh.
-Trí Tam Châm
Ba huyệt vùng trán
Điều hòa chức năng thần não
-Chủ trị
Bệnh đầu mặt ngũ quan
Đau đầu
Bệnh về mắt
Bệnh thần chí
Chậm phát triển trí tuệ trẻ em
Sa sút trí tuệ
Trầm cảm sau đột quỵ
Mất ngủ
✅Phối huyệt lâm sàng
Chậm phát triển trí tuệ Trí Tam Châm + Tứ Thần Châm + Não Tam Châm + Thái Dương Tam Châm
Tự kỷ Tứ Thần Châm + Trí Tam Châm + Não Tam Châm + Thái Dương Tam Châm + Thái Dương Thượng Tam Châm + Khải Bế Châm + Thủ Trí Châm + Túc Trí Châm
Mất ngủ Trí Tam Châm + Nội Quan + Thần Môn + Thân Mạch (tả) + Chiếu Hải (bổ)
✅Bài quyết ghi nhớ
Trí Tam Châm gồm Thần đình, Bản thần;
Hiệp đồng phối huyệt, công hiệu tăng.
Thần đình trên chân tóc nửa thốn;
Bản thần cách Thần đình ba thốn ngang.
Nơi thần não cư ngụ, nguồn của trí;
Các chứng bệnh thần chí đều có thể ứng dụng.
✅Nghiên cứu hiện đại
1. Chậm phát triển trí tuệ ở trẻ em (Mental Retardation - MR)
Các nghiên cứu cho thấy Trí Tam Châm làm huyệt chủ có thể:
nâng cao toàn diện chỉ số IQ;
hiệu quả phụ thuộc vào:
tuổi,
mức độ bệnh,
phương pháp châm,
thời gian điều trị.
-Không thấy khác biệt đáng kể giữa:
nam và nữ;
các thể bệnh YHCT.
-Kết quả cho thấy:
Trẻ dưới 7 tuổi cải thiện rõ IQ ngôn ngữ (VIQ).
Trẻ trên 7 tuổi cải thiện chủ yếu IQ thao tác (PIQ).
Bệnh nhẹ đáp ứng tốt hơn bệnh nặng.
Điện châm hoặc châm kết hợp tiêm huyệt đều hiệu quả hơn châm cứu đơn thuần.
2. Sa sút trí tuệ mạch máu (Vascular Dementia)
-Các nghiên cứu cho thấy:
Trí Tam Châm phối hợp Tứ Thần Châm giúp:
cải thiện chức năng nhận thức;
phục hồi vận động;
nâng cao khả năng sinh hoạt hằng ngày;
cải thiện chất lượng cuộc sống.
-Hiệu quả vượt trội so với nhóm dùng Nimodipine.
Ngoài ra, Trí Tam Châm phối Não Tam Châm và Tứ Thần Châm cũng cho hiệu quả tốt hơn nhóm truyền tĩnh mạch Citicoline.
3. Trầm cảm sau đột quỵ (Post-stroke Depression)
-Các nghiên cứu xác nhận:
Điện châm Trí Tam Châm cải thiện toàn diện triệu chứng trầm cảm.
Nâng cao chất lượng cuộc sống.
Cải thiện trạng thái tâm lý.
-Kết hợp cứu ngải và Trí Tam Châm giúp:
giảm điểm HAMD (Hamilton Depression Rating Scale);
giảm điểm SDS (Self-rating Depression Scale);
cải thiện rõ:
lo âu và triệu chứng cơ thể,
rối loạn nhận thức,
biến đổi triệu chứng theo chu kỳ ngày đêm,
cảm giác tuyệt vọng.
Hiệu quả tốt hơn nhóm chỉ sử dụng Trí Tam Châm đơn thuần.
✅Tài liệu tham khảo
[1] 袁青,赖新生,彭增福等,靳三针治疗精神发育迟滞(MR) 2683例临床研究, 中国针灸,1999 (6): 328-332
[2] 江钢辉,陈振虎,赖新生,针刺智三针和四神聪穴治疗血管性痴呆的临床研究, 广州中医药大学学报,2003, 20 (4): 271-273.
[3] 聂志华,钟志伦,靳三针治疗脑血管性痴呆的临床观察,上海针灸杂志,2004 (8): 5-6.
[4] 庄子齐,王敦建,电针智三针治疗中风后抑郁症疗效评价及对生存质量的影响, 辽宁中医杂志,2009(9):1400-1402.
[5] 吴俊贤,艾灸结合智三针治疗中风后抑郁症的临床研究,广州:广州中医药大学,
Nguồn Nhã Nam Y viện

Một bài thuốc dùng đúng có thể xử lý được 15 bệnh này!Tiêu dao hoàn có tiền thân là Tiêu dao tán, ra đời từ thời Tống, đ...
13/08/2026

Một bài thuốc dùng đúng có thể xử lý được 15 bệnh này!
Tiêu dao hoàn có tiền thân là Tiêu dao tán, ra đời từ thời Tống, được ghi trong sách Thái bình huệ dân hòa tễ cục phương.
Danh tiếng của Tiêu dao hoàn có thể dùng bốn chữ để hình dung: lừng danh như sấm dậy.
Thế nhưng, rất nhiều người hiểu lầm về nó khá sâu, hơn nữa áp lực đủ bề trong xã hội hiện đại đều rất lớn, cho nên bài thuốc Tiêu dao hoàn này thực sự rất cần chúng ta tìm hiểu thấu đáo.
Tiêu dao hoàn là bài thuốc điều Can, nhưng bên trong nó có thành phần bổ Tỳ, cũng có thành phần bổ huyết.
Vậy, Tiêu dao hoàn có thể điều lý những chứng trạng nào? Xin tóm lược lại, đại khái có 15 loại dưới đây, thực tế còn nhiều hơn thế.
1. Đau đầu
Nguyên nhân gây đau đầu có rất nhiều, nhiễm hàn sẽ đau, khí hư sẽ đau, huyết hư cũng sẽ đau.
Có một kiểu đau đầu không sợ lạnh, cũng không thiếu khí thiếu huyết. Mà là mỗi khi bạn tức giận hay căng thẳng, một bên đầu lại đau dữ dội.
Tức giận, căng thẳng đều có thể quy kết là tình chí thất điều, ai chủ về tình chí? Can chủ về tình chí.
Mặt khác, xét về đường tuần hành của kinh lạc, kinh Đởm đi ở vùng bên của cơ thể, mà Can và Đởm lại có quan hệ biểu lý với nhau, tức là hai đường kinh này tương thông với nhau, cho nên kiểu đau đầu này thường xảy ra ở một bên, cũng chính là cái chúng ta thường gọi là đau nửa đầu, Tiêu dao hoàn sẽ hữu dụng.
2. Phụ nữ đau đầu trước kỳ kinh, căng tức ngực trước kỳ kinh, ít nhiều đều có liên quan đến Can khí uất kết, nếu bạn lại là người hay tức giận, Tiêu dao hoàn càng thích hợp không gì bằng.
3. Kinh nguyệt không đều cũng nằm trong phạm vi điều lý của Tiêu dao hoàn
Sách Phú về căn nguyên bệnh tật có câu: “Kinh nguyệt phụ nữ không đều, đều do khí nghịch.”
Dĩ nhiên, câu nói này chưa hoàn toàn đầy đủ, khí trệ là một mặt, huyết hư cũng là một mặt. Vẫn là câu nói đó, nếu bạn là người hay tức giận, vậy phần nhiều không thoát khỏi liên quan đến khí trệ. Tiêu dao hoàn cũng là lựa chọn khá thích hợp.
4. Táo bón
Thật kỳ lạ, chuyện trong đường ruột mà Tiêu dao hoàn cũng có tác dụng ư?
Kỳ thực vẫn là nguyên nhân tình chí.
Khi một người tức giận, lúc uất ức, đường ruột của họ cũng căng cứng, cho nên có một loại táo bón, phân lúc bài xuất ra vừa khô vừa nhỏ vừa cứng, Tiêu dao hoàn khiến bạn tâm tình thư sướng, đường ruột cũng sẽ thả lỏng, vấn đề táo bón liền được giải quyết dễ dàng.
5. Tiêu dao hoàn có thể điều lý u xơ tử cung, u nang buồng trứng, phối hợp sử dụng cùng Quế chi phục linh hoàn.
Những khối u thừa ra bên trong cơ thể này, chẳng qua đều là kết quả của khí trệ huyết ứ.
Tiêu dao hoàn giúp sơ thông ở tầng khí, nhưng nếu khí uất kết dữ dội, huyết cũng sẽ theo đó mà ứ trệ. Cho nên phải phối hợp thêm Quế chi phục linh hoàn, Quế chi phục linh hoàn có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, có thể sơ thông ở tầng huyết. Đông y có một câu nói, khí thông huyết hoạt, lo gì không hết bệnh?
6. Loa lịch
Loa lịch chính là những cục u cục cục mọc ra ở trên cổ, Tây y gọi đây là lao hạch bạch huyết, lại còn có những thứ như nhân tuyến giáp, đều có liên quan rất lớn đến việc hay tức giận.
Nếu tình trạng của bạn chưa nghiêm trọng lắm, hãy nhanh chóng tìm đến Tiêu dao hoàn. Nếu tình trạng đã tương đối nghiêm trọng, có thể đồng thời phối hợp thêm Nội tiêu loa lịch hoàn, cũng là một bài thuốc thành phẩm.
7. Không có cảm giác thèm ăn, ăn không được bao nhiêu, cũng nên nghĩ xem, có phải Can mộc khắc Tỳ thổ rồi không?
Can đem cảm xúc không tốt truyền cho Tỳ, Tỳ chịu ấm ức, tự nhiên sẽ không làm việc đàng hoàng.
Một đạo lý rất đơn giản, biết bao người vừa tức giận là ăn không vô, nhưng lúc tâm tình tốt thì lại ăn được nhiều thêm hai bát cơm. Tiêu dao hoàn tuy là bài thuốc điều Can, nhưng bên trong nó cũng có thành phần bổ Tỳ, một mặt sơ tiết Can khí, một mặt xoa dịu Tỳ vị đang bị tổn thương, song quản tề hạ.
8. Ù tai
Rất nhiều người đều biết Thận khai khiếu ra tai, vừa gặp chứng ù tai, liền tưởng rằng là Thận hư, liền đi bổ Thận.
Ù tai nhất định là hư chứng sao?
Chưa chắc. Cũng có rất nhiều người ù tai là thực chứng. Ví như Can khí uất kết, bên trong lỗ tai bị khí cơ lấp tắc.
Hư chứng phải bổ, thực chứng phải tả.
Phân biệt hư thực thế nào? Có một điểm mấu chốt, phàm là sau khi lao lực mà nặng thêm, phải nghĩ đến Thận; phàm là sau khi tức giận mà nặng thêm, phải nghĩ đến Can Đởm, lúc này, Tiêu dao hoàn có thể đem ra dùng được rồi.
9. Bệnh về tuyến vú
Hơn một nửa bệnh lý về tuyến vú đều là do Can khí không thư thái gây nên.
Bạn hãy xem đường đi của kinh Can thế nào?
Kinh Can khởi lên từ ngón chân cái, men theo mặt trong cẳng chân, đi lên trên, qua vú. Can khí thuận theo kinh Can từ dưới đi lên, đi đến vị trí vú thì bị tắc nghẽn, vú sẽ căng đau. Xuất hiện tình trạng này, cần phải can thiệp kịp thời, nếu không sẽ tiến triển thêm thành tăng sinh tuyến vú, nhân tuyến vú, thậm chí là ung thư.
Dùng Tiêu dao hoàn, đem luồng khí uất kết này kịp thời quét sạch ra ngoài.
10. Trầm cảm
Một người luôn tinh thần uể oải, đối với bất cứ việc gì cũng không có hứng thú, Tây y gọi là trầm cảm. Nếu bạn đi khám Đông y, thầy thuốc rất có thể sẽ khuyên bạn nên dùng một ít Tiêu dao hoàn. Bởi vì trầm cảm dưới góc nhìn của Đông y, nó cũng mang bóng dáng của Can khí uất kết.
Khí chống đỡ mọi hoạt động sinh lý của chúng ta, giờ đây khí bị uất, khí bị tắc, không thể đi khắp nơi được, cho nên con người bạn lúc nào cũng hứng thú không cao, làm gì cũng không có sức.
11. Nám da
Nám da còn gọi là ban do Can, vậy nám da phải làm sao để loại bỏ? Điều Can là một bước không thể thiếu, Can khí điều đạt, huyết mạch thông sướng, những nốt nám trên mặt sẽ từ từ nhạt đi.
12. Đắng miệng
Can khí uất kết, uất lâu hóa hỏa, hỏa này bốc lên trên đồng thời mang theo dịch mật lên, dịch mật có vị đắng mà, cho nên sẽ bị đắng miệng, Tiêu dao hoàn cũng là lựa chọn tương đối đúng chứng.
13. Tiêu dao hoàn là bài thuốc điều Can, không chỉ điều Can khí, còn bổ Can huyết. Can lại khai khiếu ra mắt, cho nên một số vấn đề về mắt, như khô mắt, nhức mắt, mỏi mắt, biện chứng thuộc loại hình Can huyết bất túc đều có thể dùng Tiêu dao hoàn để điều lý.
14. Rụng tóc, tóc bạc
Tóc cần có âm huyết để nuôi dưỡng, cũng như cây cỏ cần nước để tưới tắm, tẩm bổ vậy. Ví như Can xảy ra vấn đề, Can khí có uất kết, Can khí không thăng lên nổi, không có cách nào đưa huyết lên vùng đầu mặt, tóc sẽ bị bạc, thậm chí là rụng tóc. Lúc này, cũng có thể dùng một chút Tiêu dao hoàn.
15. Mất ngủ
Tỉnh giấc vào lúc 1-3 giờ sáng, sau đó thì rất khó ngủ lại. Loại hình mất ngủ này, Đông y cho là Can hỏa vượng.
Can khí uất kết, uất lâu hóa hỏa rồi. Bản thân kinh Can đã có hỏa, trong khoảng thời gian khí huyết hoạt động mạnh mẽ nhất, tức là 1-3 giờ sáng, lửa chồng thêm lửa, thế là cơ thể bị đánh thức. Tiêu dao hoàn là dễ tiếp cận nhất.
Nếu Can hỏa đặc biệt vượng, có thể dùng Gia vị tiêu dao hoàn. Gia vị tiêu dao hoàn được gia thêm Đan bì và Chi tử trên cơ sở của Tiêu dao hoàn, hai vị thuốc này đều có tác dụng thanh nhiệt, chuyên thanh tán hỏa nhiệt sinh ra do Can uất.

Độc hoạt ký sinh thang được ghi chép trong 《Bị cấp thiên kim yếu phương》, là bài thuốc kinh điển trong điều trị phong hà...
03/08/2026

Độc hoạt ký sinh thang được ghi chép trong 《Bị cấp thiên kim yếu phương》, là bài thuốc kinh điển trong điều trị phong hàn thấp tý kéo dài gây đau nhức, tê mỏi, co duỗi khó khăn. Với sự kết hợp hài hòa giữa khu phong trừ thấp và bổ ích can thận, dưỡng khí huyết, bài thuốc không chỉ giúp giảm đau n.hức mà còn phục hồi căn nguyên hư tổn, củng cố chính khí, nâng cao thể trạng người bệnh.
1. Thành phần
Độc hoạt 3 lạng (9g), Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất, Tế tân, Tần giao, Phục linh, Nhục quế tâm, Phòng phong, Xuyên khung, Nhân sâm, Cam thảo, Đương quy, Bạch thược, Can địa hoàng – mỗi vị 2 lạng (6g).
2. Cách dùng
Các vị thuốc trên tán thô, dùng 1 đấu nước sắc lấy 3 thăng, chia làm 3 lần uống, giữ ấm cơ thể, tránh lạnh.
3. Công dụng
Khu phong trừ thấp, chỉ tý chỉ thống, ích can thận, bổ khí huyết.
4. Chủ trị
Chứng tý kéo dài, can thận lưỡng hư, khí huyết bất túc. Biểu hiện: đau lưng gối, tay chân tê dại, co duỗi không linh hoạt, sợ lạnh, thích ấm, hồi hộp, thở ngắn, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược.
5. Cơ chế bệnh lý và điều trị
Chứng này do phong hàn thấp tý lưu trú lâu ngày không khỏi, tổn thương can thận, hao tổn khí huyết. Tà phong hàn thấp xâm phạm kinh lạc, cản trở vận hành khí huyết, lại thêm can thận hư yếu, khí huyết suy kém, cân cốt mất nuôi dưỡng nên xuất hiện đau lưng gối, chi khớp co duỗi khó khăn, hoặc tê dại. Hàn thấp thương dương nên sợ lạnh, thích ấm; khí huyết bất túc nên hồi hộp, thở ngắn, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược.
Chứng thuộc tà thực chính hư, trị nên kiêm cả trừ tà và phù chính — vừa khu phong, tán hàn, trừ thấp, vừa bổ ích can thận, điều dưỡng khí huyết.
6. Phân tích phương thuốc
Phương lấy Độc hoạt làm quân dược, vị cay đắng, tính hơi ôn, giỏi trị phong tà ẩn phục, chuyên khu phong hàn thấp ở hạ tiêu, trừ tý chỉ thống.
Tế tân phát tán phong hàn kinh âm, khử phong thấp ở cân cốt; Phòng phong, Tần giao khu phong thắng thấp, hoạt lạc thư cân; Quế tâm ôn lý tán hàn, thông huyết mạch.
Bốn vị này phối hợp cùng quân dược để khu phong thắng thấp, tuyên tý chỉ thống, làm thần dược.
Tang ký sinh, Ngưu tất, Đỗ trọng bổ can thận, khu phong thấp, cường kiện cân cốt;
Đương quy, Bạch thược, Địa hoàng, Xuyên khung dưỡng huyết, hoạt huyết, thể hiện ý “trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự diệt”;
Nhân sâm, Phục linh, Cam thảo bổ khí kiện tỳ, làm tá dược; Cam thảo còn điều hòa các vị, làm sứ dược.
Các vị phối hợp chặt chẽ, vừa trừ phong hàn thấp tà, vừa kiện can thận, bổ khí huyết — tà lui, chính vững, các chứng tự thuyên giảm.
7. Đặc điểm phối ngũ
Kết hợp giữa tân ôn hành tán và cam ôn tư nhu, dung hòa giữa trừ tà thông tý và bổ ích can thận, ích khí huyết, chú trọng cả tà và chính.
8. Ứng dụng lâm sàng
Phương này là bài thuốc thường dùng trị phong hàn thấp tý lâu ngày, can thận lưỡng hư, khí huyết bất túc.
Chủ yếu dựa vào các biểu hiện: đau lạnh vùng lưng gối, khớp co duỗi không lợi, hồi hộp, thở ngắn, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược để biện chứng sử dụng

Đi đường thấy Dâu Tằm lên xanh tốt chợt nhớ tới mấy chứng TÊ BÌ CHÂN TAY, CỔ VAI GÁY, ĐAU NHỨC XƯƠNG KHỚP...Nhắc cả Nghì...
21/07/2026

Đi đường thấy Dâu Tằm lên xanh tốt chợt nhớ tới mấy chứng TÊ BÌ CHÂN TAY, CỔ VAI GÁY, ĐAU NHỨC XƯƠNG KHỚP...

Nhắc cả Nghìn lần ! CÀNH DÂU & LÁ DÂU TẰM là bộ đôi "KHAI THÔNG KINH LẠC - BÌNH CAN THANH NHIỆT" thuộc hàng Thượng Phẩm mà dân gian mình hay bỏ phí nhất !

​Cây Dâu tằm trong Y Học Cổ Truyền là một "KHO BÁU TOÀN NĂNG". Nhưng riêng phần CÀNH DÂU (Tang Chi) và LÁ DÂU (Tang Diệp) phơi khô đun nước uống thì nó giải quyết tận gốc cực nhiều vấn đề của thời đại bây giờ: Đau nhức vai gối, Tê bì tay chân, Cao huyết áp, Nóng gan, Mất ngủ ...

​Nay rảnh tay đúc kết lại toàn bộ GHI CHÉP & LIỀU LƯỢNG của các vị THÁNH Y - THẦN Y từ xưa tới nay cho mọi người lưu lại dùng dần nhé !

​Y THÁNH TRƯƠNG TRỌNG CẢNH (thời Đông Hán): Coi Cành dâu là "Vị Thuốc Dẫn" số 1 cho phần CHI TRÊN. Ngài thường dùng 15g - 30g Tang Chi trong các bài trị đau mỏi vai gối, tê bì các khớp ngón tay, tay chân co quắp do Phong Thấp. Vì tính chất cành dâu có khả năng dẫn dược lực đi thẳng lên vùng VAI TAY mà hiếm vị nào làm được !...

​ĐẠI DANH Y HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG (Việt Nam):
Phân tích cực hay về nguyên lý Khí - Huyết - Kinh Lạc: Thuốc trị khớp có vị đi xuống, vị đi lên. Đau từ thắt lưng trở xuống dùng vị khác, nhưng cứ đau từ THẮT LƯNG TRỞ LÊN (Vai, Cổ, Tay, Sườn) thì nhất định phải cần đến cái tính "THƯỢNG HÀNH" của Cành dâu. Cụ hay phối 20g Cành dâu + 12g Lá dâu để vừa trừ phong thấp vừa bình Can hạ áp. Còn dẫn từ Thắt Lưng xuống mạnh xuống thì dùng thêm Quế Chi (10gr) + Ngũ Gia Bì (10gr) hoặc Thiên Cốt Thống (Xương Khỉ 10gr), Kim Xuyên Cốt (10gr) (Cỏ Xước hay Ngưu Tất Nam)...

​DƯỢC THÁNH LÝ THỜI TRÂN (Thời Minh):
Trong Bản Thảo Cương Mục, Ngài đúc kết: Dùng 20g - 40g Cành dâu thái lát sao vàng đun nước uống lâu ngày giúp thanh nhiệt khí huyết, làm sạch mạch máu, hạ huyết áp, giúp người nhẹ nhõm và MẮT SÁNG RA !...

​THIỀN SƯ TUỆ TĨNH (Ông Tổ Nam Dược):
Khẳng định Cành dâu là vị thuốc Nam tính hòa, thông kinh lạc rất êm. Cụ hướng dẫn dùng 20g Cành Dâu sao vàng đun uống trị chứng tay chân tê dại, co quắp ở người già cực kỳ hiệu quả !...

​MẸO PHỐI BÀI ĐỂ TỐI ĐA CÔNG DỤNG (Tùy Theo Bệnh):

​• ĐAU NHỨC VAI TAY, TÊ BÌ NGÓN TAY : Cành (15gr) + Lá Dâu (5gr) đun cùng Gừng tươi (3gr), Ngải cứu (15gr), Lá lốt (15gr) ... Trừ phong hàn, làm ấm và thông kinh lạc cực nhanh. Còn !...

​• HẠ HUYẾT ÁP, DỊU ĐAU ĐẦU, MÁT GAN SÁNG MẮT : Cành + Lá Dâu (2gr) phối cùng Cúc Hoa (10g), Kỷ Tử (10g) hoặc Quyết Minh Tử / Hạt muồng sao (12g) ... Uống vào bình an huyết áp, dịu thần kinh !...

​• DƯỠNG HUYẾT, ĐẸP DA, ĐEN TÓC : Lá dâu phối với Hắc Chi Ma (Mè đen) (15g) và Cỏ Mực (12g) ... Đây chính là cốt lõi của bài "Tang Ma Hoàn" kinh điển !....

​• TRỊ HO KHAN, CẢM MẠO, VIÊM HỌNG : Lá hoặc Cành (15gr) Đun cùng Bạc Hà (6g), Tía Tô (10g), Cam Thảo (4g) ... Giúp dịu cổ họng và thông Phế rất tốt !...

• LƯU Ý QUAN TRỌNG: Ai thể trạng quá HƯ HÀN (hay lạnh bụng, đi phân lỏng, sợ lạnh), Huyết Áp Thấp thì nên cho thêm vài lát Gừng nướng khi đun hoặc giảm lượng lá dâu đi một chút nhé !...

​Mọi người nhớ lưu lại. Tag người thân quen vào ạ, chia sẻ gieo duyên lành

​Mọi kiến thức trên đều để ai đọc được Tham Khảo tùy duyên mà Áp dụng nha ! Ai đóng góp gì cứ bình luận để em Bổ Sung !!!

----------------------
DÂU TẰM được gọi là BÁCH BỘ DƯỢC SƠN. Dùng chỉ QUẢ thì Vô Cùng Lãng Phí 1 Cây Thuốc Quý Toàn Năng. mọi bộ phận đều được làm Thực Dược rất Quý !

Mùa Dâu Tằm đến rồi. Mọi người chỉ quen thu Quả mà không biết tới các bộ phận khác của nó thì đọc nhé !

QUẢ ( TANG THẦM ) cực Bổ Huyết, Dưỡng Nhan, Đen Tóc, Sáng Mắt
• Quả Tươi hoặc Sấy Khô dùng Ăn hoặc Làm Siro Đường Phèn dùng dần
• Quả cũng có thể Nấu Cháo, Hãm Trà cùng các loại lá Bổ Huyết
• Quả Khô có thể xay bột pha uống cùng sữa Hạt hoặc Mixx bài Ngũ Hắc : Gạo Lứt, Mè Đen, Đỗ Đen, Hắc Kỷ Tử... tạo nên cốc Bổ Thận, Bổ Máu, Đen Tóc...
• Cháo Dâu Tằm nấu Cá Chép là 1 món đại bổ cho Phụ Nữ Mang Thai và cho con Bú
• Quả có thể Ngâm R.ượu. dùng mỗi bữa tối 10-20ml rất tốt... 5 lạng tươi hoặc 3 lạng khô ngâm 1 lít rượu... Bổ Thận, Mạnh gân Cốt

LÁ DÂU ( TANG DIỆP ) Chuyên Thanh Lọc Phổi, Hạ Sốt, Trị Cảm, Thanh Nhiệt Mát Gan
• Lá Tươi hoặc Khô đun nước uống với 1 nắm khoảng 50gr tươi (khô 15gr). Hàn thêm Gừng
• Lá Dâu Tằm non hái nấu Canh rất ngon
• Lá Dâu Tằm Bánh Tẻ cuộn Thịt ăn rất tuyệt vời

CÀNH DÂU TẰM ( TANG CHI ) chuyên dùng cho Đau Nhức Xương Khớp do Phong Thấp, Thông Kinh Hoạt Lạc
• Dùng Cành Chặt phơi Khô (20gr) đun Nước Uống như Trà . Có thể kết hợp cùng Lá
• Cành đợi cuối vụ thu Quả xong tỉa để cho cây đâm mầm mới

VỎ RỄ DÂU TẰM ( TANG BẠCH BÌ ) chuyên trị Ho, Hen Suyễn , Lợi Tiểu, Giảm Phù
• Vỏ Rễ 15-20gr sắc nước Uống... Có thể mix cùng Cành, Lá... Hoặc vị Dòi Thân Tím
• Vỏ Rễ thì không khuyến cáo lấy. Vì phải Phá Cây 😂

CÂY TẦM GỬI DÂU ( TANG KÝ SINH ) rất quý. Chuyên bổ Gan Thận Mạnh, Chắc Gân Cốt, An Thai, Lợi Sữa, Tê Bì Chân Tay, Hạ Huyết Áp
• Có thể đun cùng các vị của Cây Dâu Tằm mỗi loại 12-15gr làm trà uống
• Để mạnh hơn trong chắc Gân Cốt thì dùng : 20gr Tang Ký Sinh + 15gr ngưu tất + 15gr Đỗ Trọng sắc uống
• Để An Thai, Giữ Thai trường hợp dọa Sảy thì : Tang Ký Sinh 20gr + Thục Địa 15gr + Quả Dâu 20gr đun Uống

CÀNH DÂU TẰM từ Xa Xưa được các Cụ dùng để xua Tà Ma
• DÂU tiếng hán là TANG ( trong từ Tang Tóc ) nên nó áp chế được Âm
• Cành Dâu nó Thông Kinh Hoạt Lạc, Khơi Thông Khí Huyết. Chính vì công dụng đó mà Tà Khí khó tồn tại trong người
• Chính vì vậy mà ta hay dùng Cành Dâu Tằm để dưới Chiếu hoặc treo ở Phòng

Cành Dâu Tằm còn được cắt nhỏ tiện làm Vòng Dâu Tằm rất phổ biến để đeo cho Trẻ Sơ Sinh hoặc làm Tràng Hạt tụng kinh, đi đường...

TANG có nghĩa là Chia Ly... Nên nếu có Trồng thì không trồng phía trước Nhà hoặc Chính Giữa Cửa ( Bán Kính 50m mà có hãy nhổ bỏ ) . Chỉ nên trồng phía sau hoặc góc vườn...

Đó. Phước cho ai đọc được bài này mà tận dụng chúng tránh lãng phí vị thuốc Quý ! Hãy Tag nhà ai có Cây Dâu Tằm mà dùng !

Còn gì xin bổ sung thêm ở bình luận hộ em !

29/06/2026

Bài thuốc dùng cho người bị u não ác tính tái phát
Sinh địa
Huyền sâm
Bạch thược
Uất kim
Xương bồ
Quy bản
Thiên trúc hoàng
Thạch quyết minh
Trân châu mẫu
Đại giả thạch
Xuyên ngưu tất
Câu đằng l
Viễn chí
Quất lạc (xơ quít)
Đào nhân
Đương qui
Trúc nhự
Địa long (giun đất - ND
Sắc lấy nước uống.
Bài này là kinh nghiệm lâm sàng của Viện nghiên cứu phòng chống u bướu tỉnh Sơn Đông. Bệnh nhân họ Trương, nam giới, 45 tuổi, kế toán trưởng.Bệnh nhân trước đây một năm thường xuyên đau đầu, bị đi bị lại nhiều lần từ nhẹ, dần dần tiến tới nặng. Chân tay sưng to ra hết, hoạt động rã rời, vộ lực, tiếp đó, xuất hiện chóng mặt, bị ngã lăn ra. Tháng 10 năm 1970, Y viện trực thuộc Y học viện Sơn Đông đã kiểm tra chụp não, chụp não thất, chụp xương sọ, chẩn đoán là u tuyến yên não, liền phẫu thuật để cắt bỏ ngay. Sau khi phẫu thuật được hơn 2 tháng, tình hình chung rất tốt, sau đó, có lúc bị nôn mửa, sau 3 - 4 tháng lại xuất hiện đau đầu, sau nửa năm, thị lực giảm sút, chỉ trông thấy lờ mờ mắt bên phải bị nặng hơn. Qua kiểm tra ở khoa thần kinh, chẩn đoán là thần kinh thị giác bị suy thoái. Một tháng sau lại bị nôn mửa nặng hơn, ăn uống vào là bị nôn ngay, liền đưa đến Bệnh viện 2 của thành phố để nằm viện, qua kiểm tra và mời các khoa thần kinh hữu quan hội chẩn, đều nghi là bị tái phát.
Năm 1971 mời Bác sĩ Sử Lan Lăng ở Viện nghiên cứu phòng trị thuộc Y viện u bướu tỉnh Sơn Đông đến hội chẩn, kết quả là đồng ý với những chẩn đoán nói trên. Kiểm tra thấy sắc mặt người bệnh vàng héo, người gầy rộc đi, chứng tỏ bệnh nguy hiểm, chất lưỡi đỏ, nhẵn bóng, không có rêu, mạch tượng thốn trái phù hồng, quan huyền hoạt, thốn phải phù sáp, quan huyền hoạt, lưỡng xích trầm sáp vô lực. Thị lực lờ mờ, đầu chi hơi to ra, ngủ không say, mộng mị nhiều và rất rối ren. Đàm ứ dương khiếu, can uất hóa hỏa, thận dương bất túc. Chữa trị dùng trấn xung tiềm dương, tư âm dưỡng huyết, tiêu đàm khai khiếu.
Bệnh nhân uống 4 thang thuốc, đã hết hiện tượng nôn mửa, giảm đau đầu đi nhiều, ăn uống tốt hơn, tinh thần được cải thiện, có thể đi lại hoạt động, sắc mặt hơi nhuận; người khá lên chứ không gầy như trước, thị lực tăng. Bài thuốc trên có thể cho thêm Ngư não thạch 15 gam, bột Mã tiền tử đã chế sẵn 30 gam, cùng nghiền vụn cả thành bột, mỗi lần 2 - 4 gam, ngày uống 2 lần. Sau khi chữa trị được nửa năm, có thể đi xe đạp đến bệnh viện khám bệnh. Sau một năm khôi phục trở lại sức khỏe và làm việc cả ngày. Tháng 1 năm 1979 đi thăm các nơi rất bình thường, vẫn tiếp tục công tác.
GHI CHÚ THÊM: Việc phân loại khối u ở tuyến yên của não tương đối tỉ mỉ, mà việc điều trị bằng Tây y chủ yếu là áp dụng chiếu tia phóng xạ và phẫu thuật, lại rất dễ tái phát, cho nên biện chứng luận trị của Trung y cũng thể hiện phương pháp rõ ràng là tốt. Bác sĩ Sử Lan Lăng đã bằng lí luận của Trung y, phận tích cơ chế sinh bệnh và cho rằng đó là do xung khí giáp đàm kẹt ứ gây nên. Mông bế tâm khí, lại kèm thêm cả can hư huyết khuy, hình thành huyết táo, thận dương thuy khuy, thấp hỏa lên cao, tâm thần bất an, phiền táo khó chịu nổi. Bệnh do tình chí phiền muộn, từ trung hóa hoả, hỏa tính thượng viêm, lên thẳng mãi tận đỉnh đấu, cho nên dùng Trân châu mẫu, Thạch quyết minh, Đại giả thạch (đất sét đỏ - ND) để trấn xung. Câu đằng để bình can tức phong. Quy bản, Sinh địa, Nguyên sâm để tư âm tiềm dương.
Thiên trúc hoàng, Quất lạc, Trúc nhự, Uất kim để hóa đàm lí khí.
Đương qui, Bạch thược, Đào nhân, Địa long, Xuyên ngưu tất để dưỡng huyết hóa ứ, dẫn huyết xuống dưới. Xương bồ, Viễn chí để điều tiết tâm thần. Ngư não thạch để thượng nghịch, dẫn thuốc vào não. Mã tiền tử để thanh nhiệt tán kết, thông lạc chỉ thống, chống ung thư. Vì biện chứng luận trị chuẩn xác, dùng thuốc tinh tường, cho nên có được hiệu quả rõ rệt.
LỜI BÀN
THÔNG TIN VỀ CA ĐIỀU TRỊ TRÊN ĐƯỢC TRÍCH TỪ SÁCH THUỐC NHỮNG BÀI THUỐC BÍ TRUYỀN ĐỘC ĐÁO CHỮA BỆNH UNG THƯ!
thấy sách hay, kinh nghiệm hay nên chia sẻ lên đây để mọi người có thêm hiểu biết, không khuyến khích tự sử dụng. Trường hợp có bệnh nên điều trị theo chỉ định của bác sĩ trong bệnh viện ung bướu.

Address

Tiến Phan 1/Nhã Nam/Tân Yên
Bac Giang
3878262

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đông y gia truyền TUỆ TÂM ANH posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category