Nhà Thuốc Tuệ Lâm

Nhà Thuốc Tuệ Lâm Viên sủi BocaPlatinum giúp giải quyết :
- Thoái hóa khớp, Thoát vị đĩa đệm.
- Kháng Viêm, tiêu sưng các khớp.
- Đau khớp gối,đau lưng, cổ vai gá

23/12/2021

KHI NGƯỜI BỆNH UNG THƯ KHÔNG MUỐN ĐIỀU TRỊ
Nên làm gì khi người thân của bạn từ chối điều trị ung thư?

Có một số người bệnh ung thư đã chọn không điều trị. Điều này có thể rất khó chấp nhận đối với gia đình và bạn bè của họ. Nhưng nhìn chung, những người có đủ năng lực quyết định đều có quyền từ chối một phần hay toàn bộ điều trị. Là người thân của người bệnh, bạn có thể băn khoăn tại sao họ đưa ra quyết định này. Có thể là người bệnh có vấn đề về sức khỏe khiến việc điều trị ung thư trở nên khó khăn và nhiều nguy cơ hơn. Cũng có thể họ cảm thấy với tuổi tác và quãng đời đã trải qua của họ, giờ đã là “thời khắc phải đến của họ”. Đôi khi là vì lý do tôn giáo. Có nhiều lý do làm người bệnh ung thư từ chối điều trị.

Bạn có thể hỏi người bệnh về lý do họ từ chối điều trị. Dù cho câu trả lời có thể khó chấp nhận với bạn, việc lựa chọn từ chối điều trị là của người bệnh chứ không phải của ai khác. Thường thì câu trả lời của người bệnh là hợp lý và cho bạn hiểu rõ hơn về tình hình của người bệnh. Bạn cũng có thể nói với người bệnh những suy nghĩ của mình. Bạn có thể nói những điều như “Con chưa từng nghĩ theo cách này và con rất mừng là bố đã chia sẻ quan điểm của bố với con” hoặc “Anh hy vọng em sẽ nói chuyện với bác sĩ về các lựa chọn điều trị, nhưng anh sẽ ủng hộ và giúp đỡ em vượt qua giai đoạn này bằng cách tốt nhất anh có thể làm”. Ngay cả sau khi người bệnh từ chối điều trị, vẫn cần giúp họ hiểu rõ ràng và đầy đủ về những lựa chọn của họ. Bạn có thể đề nghị người bệnh nói chuyện với bác sĩ về quyết định của họ và hỏi bác sỹ xem có những cách điều trị nào có thể sử dụng. Một số người bệnh sẽ đồng ý nói chuyện với bác sĩ, một số thì không. Nhưng đừng ngạc nhiên nếu như sau khi nói chuyện với bác sĩ, người bệnh vẫn từ chối điều trị. Họ có quyền tự lựa chọn cho bản thân họ, giống như bạn có quyền cảm nhận theo cách của bạn. Hãy cố gắng nhìn nhận mọi thứ từ góc nhìn của người bệnh và tiếp tục hỗ trợ họ và giữ gìn mối quan hệ với họ.

Chăm sóc bổ trợ (còn được gọi là chăm sóc giảm nhẹ) có thể giúp cho tất cả những người bệnh ung thư – ngay cả những người không muốn điều trị. Chăm sóc bổ trợ giúp người bệnh ung thư giảm nhẹ các triệu chứng như đau nhiều, buồn nôn hoặc các triệu chứng khác. Phương pháp chăm sóc này nhằm mục đích điều trị các triệu chứng chứ không phải điều trị bản thân bệnh ung thư. Chăm sóc bổ trợ giúp người bệnh cảm thấy tốt nhất có thể trong khoảng thời gian lâu nhất có thể.

Người bệnh từ chối điều trị ung thư vẫn có thể chấp nhận chăm sóc giảm nhẹ. Các điều dưỡng chăm sóc giảm nhẹ sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ hoặc chăm sóc bổ trợ để giảm hoặc kiểm soát các triệu chứng của bệnh ung thư. Họ cũng giúp người bệnh và gia đình người bệnh tận dụng tối đa thời gian còn lại của họ. Một người bệnh có khả năng tự đưa ra quyết định cũng có thể vẫn từ chối sự chăm sóc này. Điều đó có thể sẽ khó chấp nhận với người thân của người bệnh khi thấy người bệnh phải chịu đựng bệnh tật đau đớn trong khi biết rằng chăm sóc giảm nhẹ có thể làm bớt đau và các triệu chứng khác. Nếu điều này xảy ra, người thân của người bệnh luôn luôn cố gắng làm tốt nhất có thể, nhưng vẫn nên coi việc chăm sóc giảm nhẹ là một lựa chọn. Sự chăm sóc này sẽ cần thiết hơn nữa nếu tình trạng bệnh nhân nặng hơn - đó là lúc người thân của bệnh nhân không thể tự xoay sở mà không có sự giúp đỡ.

Nên làm gì khi người thân của bạn quyết định dừng điều trị ung thư?

Có những lúc bạn và người thân đang bị ung thư của bạn không đồng ý với nhau khi cần đưa ra quyết định. Một trong những thời điểm đó có thể là khi người bệnh quyết định rằng việc tiếp tục điều trị ung thư là không xứng đáng với phí tổn về vật chất và tinh thần nên họ muốn dừng điều trị. Khi bạn thấy người thân quyết định từ bỏ điều trị bạn có thể cảm thấy rất buồn, thất vọng hay tức giận. Việc dừng điều trị là điều cả bạn và người bệnh đều không mong muốn và làm cả hai thấy rất buồn.

Điều quan trọng là bạn và người thân cho nhau quyền cảm thông và thấu hiểu tâm trạng và cảm xúc của nhau. Hãy hiểu rằng người bệnh mệt mỏi với việc điều trị và mệt mỏi vì việc đau ốm mà không thấy lợi ích rõ ràng từ việc điều trị. Mặc dù bạn không đồng ý với quyết định dừng điều trị này của người bệnh, sẽ thật là buồn nếu bạn để sự bất đồng ý kiến này làm thay đổi mối quan hệ của hai người.

Một khi bạn ngừng lại và suy nghĩ về điểm này, bạn sẽ cảm thông và không còn thất vọng hay tức giận với quyết định của người bệnh, thay vào đó, hãy dành thêm thời gian ở bên cạnh người bệnh, trân trọng khoảng thời gian còn lại của bạn với người thân. Điều này là tốt nhất cho cả hai. Bạn có thể nói với người bệnh về việc chấp nhận có sự bất đồng ý kiến giữa hai người trong khi vẫn yêu thương và quan tâm đến nhau.

Hãy nhớ rằng người bệnh đã, đang và sẽ luôn là người thân của bạn. Điều đó sẽ giúp bạn đối xử với họ như cách mà bạn đã làm từ trước tới nay.

[Bạn hỏi - bác sĩ trả lời] - Mẹ bị bướu cổ có ảnh hưởng đến con không?Hỏi: Chào bác sĩ, trước đây tôi từng bị bướu cổ là...
13/12/2021

[Bạn hỏi - bác sĩ trả lời] - Mẹ bị bướu cổ có ảnh hưởng đến con không?
Hỏi:
Chào bác sĩ, trước đây tôi từng bị bướu cổ lành tính và đã chữa khỏi. Tôi đang dự định mang thai. Tôi nghe nói mẹ từng bị bướu cổ sẽ sinh ra đứa con không được bình thường, chậm phát triển. Bác sĩ cho hỏi điều này có phải là sự thật không. Tôi đang khá lo lắng. Cảm ơn bác sĩ.

Trả lời:
Chào bạn, nếu bạn từng bị bướu cổ nhân lành tính và đã được điều trị khỏi hoàn toàn thì khả năng có thai và sinh con của bạn sẽ vẫn bình thường như các phụ nữ khác. Bạn không cần phải lo lắng về vấn đề này.
Bướu cổ hay u tuyến giáp lành tính là những khối u (bướu) chứa đầy chất rắn hoặc chất lỏng hình thành trong tuyến giáp – một tuyến nhỏ nằm trước vùng cổ, ngay trên xương ức. Bệnh rất phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam với tỉ lệ nữ mắc nhiều hơn 4 - 5 lần so với nam giới. Bệnh bướu cổ không gây vô sinh nhưng có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của người phụ nữ nếu người bệnh bị bướu cổ có cường giáp hoặc suy giáp.
Đối với phụ nữ bị bướu cổ đơn thuần, nhân tuyến giáp lành tính thì người bệnh vẫn có thai bình thường, bệnh hầu như không ảnh hưởng đến thai nhi.
Đối với phụ nữ đang mang thai mắc bệnh bướu cổ có cường giáp thì khả năng sẩy thai khá cao. Trẻ sinh ra có nguy cơ bị cường giáp giống mẹ.
Đối với phụ nữ mang thai mắc bệnh bướu cổ có suy giáp thì em bé khi sinh ra có khả năng bị thiểu năng giáp, chậm phát triển trí tuệ, đần độn.
Phụ nữ bị bướu cổ có cường giáp hoặc suy giáp trong quá khứ nhưng đã được điều bị hoàn toàn, không xảy ra biến chứng sau mổ hoặc phẫu thuật vẫn có thể có con bình thường. Tuy vậy, trong quá trình mang thai, phụ nữ bị bướu cổ có cường giáp hoặc suy giáp cần đến khám và nhận tư vấn từ bác sĩ chuyên khoa để được thăm khám và theo dõi tình trạng sức khỏe thường xuyên.
TS.BS Bùi Đức Hán

Thận theo đông y ảnh hưởng đến các tạng phủ khác như thế nào?TS.BS Bùi Đức Hán 1Thận ảnh hưởng đối với Phế2Thận ảnh...
11/12/2021

Thận theo đông y ảnh hưởng đến các tạng phủ khác như thế nào?
TS.BS Bùi Đức Hán
1Thận ảnh hưởng đối với Phế
2Thận ảnh hưởng đối với Tỳ
3Thận ảnh hưởng đối với Tâm
3.1Thủy hỏa ký tế (điều hòa qua lại)
3.2Tinh và huyết hỗ sinh (biến đổi qua lại lẫn nhau)
3.3Tinh và thần hỗ dụng (sử dụng qua lại lẫn nhau)
4Thận liên quan với Can
4.1Thủy có thể dưỡng mộc
4.2Tinh và huyết hỗ sinh (biến đổi qua lại lẫn nhau)
4.3Cả hai đều là tướng hỏa quan trọng
5Chức năng của chúng đối ngược nhưng bổ sung cho nhau
6Thận ảnh hưởng đến Phủ
7Tài liệu tham khảo
Bài viết thứ 5 trong 5 bài thuộc chủ đề Nguyên lý cơ bản của Y học cổ truyền


Theo Đông y, Thận là cơ quan quan trọng nhất trong cơ thể; nó được xem như gốc rễ của hoạt động sống và nền móng của sự di truyền. Khái niệm về Tạng Thận trong Đông Y rộng hơn so với “cơ quan” Thận theo giải phẫu Tây y. Nó thực hiện chức năng sinh dục, tiết niệu, nội tiết, xương cốt, huyết dịch cho đến công năng của hệ thống thần kinh. Trong thận chứa nguyên âm và nguyên dương (cũng được gọi là Thận âm và Thận dương). Thận cũng liên quan mật thiết với các tạng phủ khác nhằm thực hiện điều hòa chức năng sinh lý của cơ thể.. Mối quan hệ của thận với các cơ quan khác là những mối quan hệ tương sinh và tương khắc với các trạng thái vận động không ngừng. Đông y sử dụng học thuyết Ngũ hành như một công cụ để giải thích sinh lý các tạng phủ trong cơ thể, hiện tượng bệnh lý và hướng dẫn chẩn đoán, điều trị trên lâm sàng.

Vòng ngũ hành và ngũ tạng tương sinh tương khắc

Thận ảnh hưởng đối với Phế
Dựa vào học thuyết ngũ hành, mối quan hệ giữa Thận với Phế giống như sự liên hệ giữa mẹ và con. Thận thuộc Thủy còn Phế thuộc Kim; Thủy và Kim tương sinh (Kim sinh Thủy, Thủy nhuận Kim). Chúng có tác dụng ảnh hưởng phụ thuộc lẫn nhau về sinh lý và bệnh lý.

Phế là cơ quan hô hấp. Hít vào khí trong (thanh khí) từ không khí thiên nhiên và thải ra khí dơ (trọc khí) của cơ thể, làm trao đổi khí giữa bên trong và ngoài cơ thể. Tùy thuộc vào sự vận hành của Phế, khí có thể lưu thông xuyên suốt cơ thể, vì vậy sự chuyển hóa trong cơ thể luôn được đảm bảo.

Tuy nhiên, hô hấp không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào chức năng của Phế, Thận cũng tham gia điều hòa quá trình hô hấp. Để duy trì khí trao đổi có hiệu quả, khí hít vào đã được Phế tinh chế phải đưa xuống Thận để được Thận thu nạp một cách thích hợp. Thận chủ “nạp khí” nghĩa là thu nhận, giữ lại khí hít vào của phế, điều tiết hoạt động hô hấp.

Thông thường hoạt động hô hấp tùy thuộc vào sự điều hòa lẫn nhau của Thận và Phế. Mối quan hệ này được nói rõ trong “Loại chứng trị tài” (Chẩn đoán phân biệt và điều trị các bệnh lý – Lâm Bội Cầm 1839 – nhà Thanh): “Phế chủ khí và Thận là gốc của khí; Phế chủ xuất khí và Thận chủ nạp khí; âm dương tương giao hô hấp được thông suốt là kết quả của sự cân bằng giữa âm và dương”.

Để duy trì hô hấp được thông suốt, Thận khí phải sung mãn và chức năng nạp khí của Thận không bị ảnh hưởng. Khi Thận khí suy nhược và không nạp được khí, khí đi xuống không được Thận thu nạp có thể dẫn đến các vấn đề về Phế như hít vào khó khăn và thì thở ra dài. Tình trạng sẽ nặng hơn khi vận động nhiều. Trong Đông y, đây được gọi là Thận không nạp khí. Trên lâm sàng, bệnh này có thể gặp trong viêm Phế quản mạn tính người cao tuổi, khí Phế thũng và Tâm Phế mạn, tất cả là kết quả của Thận hư khí nghịch, thận không nạp khí gây ra..

Thận ảnh hưởng đối với Tỳ
Trong khi Thận được xem như là “Tiên thiên” và nguồn gốc của sự sống, thì Tỳ được xem như là “Hậu thiên” và là nguồn sinh hóa khí huyết. Hai cơ quan này hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau.

Tỳ chủ vận hóa. Điều đó có nghĩa Tỳ là cơ quan chính cho tiêu hóa, hấp thu và vận chuyển tinh chất dinh dưỡng đến toàn cơ thể. Tinh chất dinh dưỡng là nguyên liệu cơ bản tạo nên huyết dịch, khí và tân dịch trong cơ thể. Chính vì vậy mà Tỳ được xem là “hậu thiên” và là nguồn gốc sản sinh ra khí huyết. Để hoạt động tốt, Tỳ phụ thuộc vào sự ôn ấm và hoạt động thúc đẩy của Thận dương. Theo “Y môn bổng hát” viết: “Chức năng vận hóa của Tỳ và Vị được thúc đẩy nhờ sự ôn ấm và thúc đẩy của Thận dương”. Điều đó có nghĩa rằng “Tiên thiên” hỗ trợ “Hậu thiên”, nó cho phép Tỳ và Vị hoạt động một cách thông suốt. Và kết quả làm thức ăn và nước uống được tiêu hóa và tinh chất dinh dưỡng được sản xuất, đảm bảo bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể.

Sự hình thành của tinh hâu thiên nuôi dưỡng toàn cơ thể

Khi Thận dương hư suy, Tỳ sẽ không được ôn ấm như bình thường, chức năng vận hóa Tỳ trở nên bất thường dẫn đến tình trạng tiêu chảy. Trong “Cảnh Nhạc toàn thư” viết: “Thận hoạt động như cánh cổng của Vị, khai khiếu ở tiền âm và hậu âm; vì vậy chúng điều khiển quá trình tiểu tiện và đại tiện.

Nếu Thận dương suy giảm, tức là mệnh môn hỏa suy, âm trong cơ thể thịnh lên cực độ, dẫn tới tiêu chảy liên tục. Trên lâm sàng, ở người cao tuổi và người bệnh lâu ngày, có thể từ Thận dương suy kém dẫn đến Tỳ không được ôn ấm gây ra tiêu chảy là triệu chứng thường gặp. Trên một số người với triệu chứng ngũ canh tả, phép điều trị thường là ôn ấm Tỳ Thận.

Thận ảnh hưởng đối với Tâm
Theo học thuyết Ngũ hành, Tâm thuộc hỏa, Thận thuộc thủy. Chúng được phân loại tương ứng thuộc Dương và Âm. Tâm và Thận có quan hệ mật thiết, tương quan chặt chẽ và chế ước lẫn nhau. Nếu có bất thường quan hệ chức năng giữa Tâm và Thận, thì sẽ phá vỡ sự cân bằng động giữa thuộc tính Âm và Dương hay giữa Thủy và Hỏa trong cơ thể, gọi là “Tâm Thận bất giao”.

Mối quan hệ cụ thể giữa Tâm và Thận được thể hiện như sau:

Thủy hỏa ký tế (điều hòa qua lại)
Theo Đông y, Tâm ở phần trên của cơ thể, nó thuộc Dương và chủ hỏa, có tính chất động. Trong khi đó, Thận nằm ở phần dưới cơ thể, nó thuộc Âm và chủ Thủy, có tính chất tĩnh. Theo lý luận Đông Y, sinh lý bình thường, Tâm hỏa giáng xuống Thận cùng với Thận dương ôn ấm Thận âm và ngăn ngừa Thận âm quá thịnh. Mặt khác, Thận thủy phải thăng lên cùng với Tâm âm để nuôi dưỡng Tâm dương, cũng là ngăn ngừa Tâm dương hoạt động thái quá. Đông y cho rằng: Khi Thận thiếu hỏa của Tâm, thủy sẽ lạnh; khi Tâm thiếu Thủy của Thận, hỏa sẽ thái quá”. Khi thủy và hỏa hài hòa, quan hệ cân bằng giữa âm ở dưới và dương ở trên giúp duy trì sự đảm bảo cần thiết cho sức khỏe (gọi là thủy hóa ký tế).

Một khi sự cân bằng giữa Tâm hỏa giáng xuống và Thận thủy thăng lên bị phá vỡ, sẽ dẫn đến bệnh lý. Ví dụ khi Thận âm hư tổn, Thận thủy không khống chế được Tâm hỏa, dẫn đến Tâm hỏa thái quá. Trong khi đó, Tâm hỏa thái quá không thể giáng xuống ôn ấm Thận thủy. Vì thế nửa người trên cơ thể sẽ chịu sự thái quá của Tâm hỏa, ngược lại nửa người dưới cơ thể sẽ chịu sự lạnh buốt và đông cứng của Thận thủy, dẫn đến các vấn đề như mất ngủ, di tinh, và một số trường hợp nặng có thể đẫn đến thần chí mê sảng (tâm thận bất giao, tâm hỏa độc khang).

Tinh và huyết hỗ sinh (biến đổi qua lại lẫn nhau)
Chức năng sinh lý của Tâm là chủ huyết, chức năng sinh lý của Thận là tàng tinh. Tinh và huyết là hai thành phần quan trọng trong cơ thể; tạo nên những chất cơ bản để duy trì hoạt động sống. Tinh của Thận có thể chuyển đổi thành huyết, và huyết có thể chuyển đổi thành tinh. Hoạt động sinh sản và chuyển đổi qua lại lẫn nhau cung cấp nguyên liệu cơ bản cho mối quan hệ chức năng của Tâm và Thận.

Tinh và thần hỗ dụng (sử dụng qua lại lẫn nhau)
Theo Đông y, Tâm tàng thần. Thần chủ quản tất cả hoạt động sống và bổ sung thêm cho tinh. Thận tàng tinh. Tinh chuyển vào tủy xương và não (bể của tủy). Tủy hợp lại làm đầy cho não.

Mặc dù hoạt động tinh thần là do Tâm làm chủ, nhưng trí nhớ, sự kiên trì, nghị lực, .v.v. là từ não, do vậy mới có quan điểm “Thận Tàng chí”. Mối quan hệ được thiết lập mạnh mẽ và mật thiết giữa Tâm và Thận đảm bảo cho Thận tinh (thuộc về Âm) thăng lên và kiểm soát Tâm thần. Ngược lại, quan hệ này cũng đảm bảo cho Tâm khí (thuộc về Dương) giáng xuống và kiểm soát Thận chí. Đông y cho rằng: Tinh là vật chất cơ bản của Thần và Thần là biểu hiện bên ngoài của Tinh. Thần sinh ra từ Tinh và phát xuất ra từ Tâm. Những hoạt động này cũng chịu ảnh hưởng qua lại của Tâm và Thận. Khi phần Âm thiếu hụt ở phần dưới cơ thể và phần Dương thái quá ở phần trên cơ thể thì Tâm sẽ không thể chứa được Thần và tinh cũng không thể giữ được cảm xúc. Dẫn đến các chứng điên cuồng, trầm cảm hoặc mất trí.

Thận liên quan với Can
Can tàng huyết, Thận tàng tinh. Can thúc đẩy những hoạt động thông sướng và điều đạt, trong khi thận thúc đẩy những hoạt động tàng trữ và giữ kín. Cả hai tạng đều thuộc hạ tiêu (một phần của Tam tiêu), có thể nói là cùng nguồn gốc. Chúng liên hệ với nhau cả về sinh lý và bệnh lý.

Thủy có thể dưỡng mộc

Theo học thuyết ngũ hành, Can thuộc mộc và Thận thuộc thủy. Can thúc đẩy sự hoạt động của khí thông sướng và điều đạt, là nơi tàng huyết và điều chỉnh thích hợp sự bổ sung huyết cho tuần hoàn và toàn cơ thể. Theo học thuyết ngũ hành, Thủy sinh Mộc. Đây là mối quan hệ mẹ con. Thận giúp tăng cường và nuôi dưỡng Can để nó có thể hoạt động chức năng bình thường. Một ví dụ khác là về mối quan hệ giữa Thận âm và Can âm. Thận âm nuôi dưỡng Can âm làm cho Can dương không thái quá. Mặt khác, Can âm góp phần tái tạo Thận âm. Trong đó, Thận âm có vai trò quan trọng hơn Can âm. Sự đầy đủ của Thận âm quyết định sự duy trì cân bằng động giữa chúng. Nếu Thận âm bị thiếu hụt, thủy không đủ để nuôi dưỡng mộc và dẫn đến phần âm bị hư tổn trong cả thận âm và can âm, cũng gây nên Can dương thái quá. Khi đó, nhiệt tà tích tụ quá mức trong cơ thể nên gây ra triệu chứng như đau đầu hay đau hông sườn sẽ xảy ra.

Tinh và huyết hỗ sinh (biến đổi qua lại lẫn nhau)
Tinh hậu thiên và huyết có chung nguồn gốc. Chúng được biến đổi từ tinh dinh dưỡng và là sản phẩm của quá trình tiêu hóa và chuyển đổi bởi Tỳ vị. Huyết được tàng ở Can và tinh được tàng ở Thận. Trong điều kiện sinh học bình thường, huyết được tàng ở Can cũng dựa trên sự nuôi dưỡng của Thận tinh. Ngược lại, Thận tinh cũng phụ thuộc vào sự bổ sung của Can huyết. Chúng biến đổi qua lại và nuôi dưỡng lẫn nhau.

Cả hai đều là tướng hỏa quan trọng
Tướng hỏa có nguồn gốc từ Mệnh môn, đó là Can và Thận. Nó có ở cả Can và Thận. Chúng quan hệ với quân hỏa (Tâm hỏa) và cả hai cùng phối hợp hoạt động chức năng với nhau như trong 1 vương quốc và đẩy mạnh hoạt động chức năng khỏe mạnh cho toàn cơ thể.

Chức năng của chúng đối ngược nhưng bổ sung cho nhau
thận và can

Can chủ về sơ tiết và điều đạt, trong khi thận chủ về bế tàng (tàng trữ và giữ kín). Sơ tiết và bế tàng là biểu hiện tương phản tương thành. Một mặt sự sơ tiết thích hợp của Can khí đảm bảo Thận khí hoạt động bình thường trong phạm vi năng lực của nó mà không bị thái quá. Mặt khác, sự bế tàng của thận khí hạn chế chức năng của Can không vượt mức (Thái quá) hay thiếu hụt (Bất cập). Các hoạt động này đối ngược nhưng lại bổ sung cho nhau. Mối quan hệ đặc biệt này được thấy rõ trong quá trình phóng tinh của nam giới. Ví dụ khi Can mất sự thông sướng và điều đạt và Thận không tàng được tinh, can dương sẽ trở nên thái quá và ngũ hành sẽ không chế ước nhau được. Hỏa thịnh sẽ làm tinh rò rỉ chảy tràn ra ngoài, gây ra sự tăng xuất tinh ban đêm và mộng tinh (Tinh chảy ra ngoài tự ý mà không có cực khoái).

Thận ảnh hưởng đến Phủ
Với các phủ, Thận có quan hệ mật thiết nhất với phủ Bàng quang. Kinh Thận và kinh Bàng quang có mối quan hệ biểu lý với nhau. Hơn nữa, theo học thuyết ngũ hành, cả hai đều thuộc hành Thủy, vì vậy không lạ gì khi Thận và Bàng quang là hai cơ quan quan trọng trong vận chuyển nước toàn cơ thể.

Thận ảnh hưởng đến phủ

Thận chủ thủy bằng việc điều hòa và bài tiết nước, Đông y mô tả Thận như một máy bơm. Còn Bàng quang chứa đựng và bài tiết nước tiểu, cũng là một bộ phận trong quá trình bơm nước. Theo quan niệm Đông y, quá trình hoạt động của chúng thực hiện những hoạt động này tương tự như việc đóng mở của các cửa van nước khác nhau. Chức năng khí hóa của Thận khí là yếu tố quyết định cho hoạt động chức năng của Bàng quang được bình thường. Khi Thận khí đầy đủ và chức năng bế tàng hoạt động thích hợp thì Bàng quang sẽ đóng mở đều đặn giúp duy trì hoạt động chứa đựng và thải nước tiểu. Khi thận khí thiếu hụt, dẫn đến Bàng quang đóng mở không đều đặn. Khi đó sẽ gặp phải những vấn đề như chứng phù, tiểu tiện không kiểm soát và tiểu nhiều lần. Vì thế những thay đổi bệnh lý về sự tàng trữ và bài tiết nước tiểu thường liên quan đến cả Bàng quang và Thận.

Thông thường, chức năng khí hóa và ôn ấm của Thận đảm bảo cho hoạt động bình thường của các phủ sau đây:

Tiếp nhận và làm chín đồ ăn thức uống của Vị.
Chứa đựng và làm biến đổi thức ăn trong Tiểu trường. Nó liên quan đến sự tiếp nhận thức ăn đã tiêu hóa từ Vị, rồi phân loại thành chất dinh dưỡng và chất thải.
Truyền tống cặn bã và bài xuất phân trong Đại trường.
Nói chung theo quan điểm Đông y, Thận là tạng quan trọng nhất trong cơ thể. Chúng có thể được xem là nền tảng di truyền và gốc rễ của sự sống. Khi chúng ta lớn lên già đi, chức năng của Thận cũng bị sụt giảm một cách tự nhiên. Mỗi ngày hoạt động cơ bản, việc cốt yếu là tập trung bảo vệ và dinh dưỡng cho Thận, vì nó là nền tảng cơ bản cho sức khỏe lâu dài.

Strees do vấn đề tài chính ảnh hưởng sức khỏe như thế nào và cách vượt qua78% người được hỏi cho biết họ cảm thấy căng t...
11/12/2021

Strees do vấn đề tài chính ảnh hưởng sức khỏe như thế nào và cách vượt qua

78% người được hỏi cho biết họ cảm thấy căng thẳng về tài chính. Đại dịch chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề này khi nó làm tăng thêm sự bất bình đẳng .

Để giảm thiểu đáng kể – lý tưởng nhất là loại bỏ – căng thẳng tài chính, cần phải có một cuộc đại tu chính sách công và một sự thay đổi đáng kể trong các doanh nghiệp .

Trong khi tất cả chúng ta chờ đợi cho cuộc đại tu này xảy ra, có những bước mà bạn với tư cách là một cá nhân có thể thực hiện để khôi phục tình trạng tài chính của mình khi đối mặt với những tình huống nghiêm trọng.

Tôi đề cập đến các bước này như là sự lành mạnh về tài chính. Xin lưu ý rằng các bước này không nhằm giảm thiểu sự phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính và các bất bình đẳng khác hiện nay. Thay vào đó, các bước chăm sóc sức khỏe tài chính này nhằm mang lại sự khích lệ trong lúc vô vọng.

Sức khỏe tài chính là gì?
Định nghĩa mà tôi muốn sử dụng cho sự lành mạnh về tài chính là “các bước hành động mà người ta có thể thực hiện để nâng cao sức khỏe tài chính của mình”.

Sức khỏe tài chính, theo định nghĩa của Mạng lưới sức khỏe tài chính, là “mối quan hệ năng động của các nguồn lực tài chính và kinh tế của một người khi chúng được áp dụng hoặc tác động đến trạng thái sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội”.

Có ba hạng mục về sức khỏe tài chính:
dễ bị tổn thương

đối phó

khỏe mạnh

Vào tháng 8 năm 2020, Mạng lưới Sức khỏe Tài chính đã xuất bản Báo cáo Xu hướng hàng năm của mình. Báo cáo cho thấy gần 2/3 số người ở Hoa Kỳ đang phải đối phó hoặc dễ bị tổn thương về tài chính. Những người này đang phải vật lộn để chi tiêu, tiết kiệm, vay mượn hoặc lập kế hoạch theo những cách cho phép họ kiên cường và nắm bắt cơ hội theo thời gian.

Nhiều người trong chúng ta không cần nghiên cứu để chứng minh rằng việc vật lộn về tài chính gây hại cho sức khỏe tài chính của bạn và tạo ra căng thẳng về tài chính. Chúng tôi cũng không cần nghiên cứu để chứng minh rằng các cuộc đấu tranh tài chính, và do đó căng thẳng, có tác động trực tiếp đến thể chất, tinh thần và sức khỏe xã hội của bạn.

Tuy nhiên, nghiên cứu xung quanh căng thẳng tài chính và tác động của nó có thể giúp bạn cảm thấy xác thực hơn khi điều hướng các tình huống tài chính đầy thách thức.

Tác động của căng thẳng tài chính là gì?
Viện Sức khỏe Tài chính định nghĩa căng thẳng tài chính là “một tình trạng là kết quả của các sự kiện tài chính và / hoặc kinh tế tạo ra lo lắng, lo lắng hoặc cảm giác khan hiếm và đi kèm với phản ứng căng thẳng sinh lý”.

Nghiên cứu mới nổi đang liên kết căng thẳng tài chính với sức khỏe tâm thần. Một nghiên cứu năm 2014 từ Đại học Yale khám phá ý tưởng rằng một số “vấn đề sức khỏe tâm thần” thực sự là vấn đề tiền bạc.

Annie Harper, Tiến sĩ, nhà nhân chủng học và nhà nghiên cứu đằng sau nghiên cứu này, lưu ý rằng phần lớn những người tham gia đều mắc nợ và rất căng thẳng về điều đó. Nợ có tác động tiêu cực mạnh đến sức khỏe tinh thần và cô ấy đề xuất rằng nếu các vấn đề tài chính của một cá nhân được giải quyết, các vấn đề khác cũng có thể được giải quyết.

Hàng ngày:
căng thẳng tài chính có thể có tác động tiêu cực đến các quyết định tiền bạc của bạn. Nó có thể dẫn đến bội chi hoặc bội chi. Tương tự như thực phẩm mà người ta có thể ăn theo cảm xúc hoặc hạn chế nghiêm ngặt chế độ ăn uống của họ do căng thẳng, tác động tương tự cũng xảy ra với tiền bạc.

Một cá nhân có thể tìm thấy sự thoải mái trong “liệu pháp bán lẻ” – chi tiêu không cần thiết vào những thứ không cần thiết – hoặc cảm thấy nhẹ nhõm khi hạn chế chi tiêu của họ đến mức họ đi mà không có nhu cầu thiết yếu, hạn chế lượng thức ăn của họ để tiết kiệm tiền. Tuy nhiên, về lâu dài, cả hai thái cực đều có thể gây hại.

Như đã nêu trước đó:
cần phải có những thay đổi từ trên xuống để giảm bớt căng thẳng do chi phí chăm sóc sức khỏe đắt đỏ, các khoản vay nặng lãi dành cho sinh viên, tiền lương trì trệ và chi phí sinh hoạt ngày càng tăng cao.

Nhưng bạn có thể làm gì để thay đổi hoàn cảnh của mình trong khi những người trong tháp ngà tìm cách thay đổi? Làm thế nào bạn có thể lấy lại quyền lực để giảm bớt căng thẳng tài chính, nâng cao sức khỏe tài chính và cảm thấy hài lòng về tình hình tài chính của mình?

Đề xuất của tôi là hãy kết hợp sự lành mạnh về tài chính vào cuộc sống của bạn. Giống như bạn đọc Healthline về các mẹo chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần để có quyền tự quyết đối với sức khỏe chung của bạn, có những bước bạn có thể thực hiện để tạo quyền tự quyết đối với sức khỏe tài chính của mình.

Bạn có thể học được gì trong một tháng không có rượu?
Không bao giờ là thời điểm tồi để kiểm tra mối quan hệ của bạn với rượu. Tìm hiểu cách điều hướng một tháng tỉnh táo với Thử thách khắc phục độ cồn kéo dài một tháng.

Bạn có thể thực hiện các bước chăm sóc sức khỏe tài chính nào?
Nếu bạn làm việc cho một tổ chức, nơi đầu tiên để bắt đầu là hỏi người dân và nhóm văn hóa của bạn về các lợi ích sức khỏe tài chính.

Những lợi ích này có thể bao gồm những điều sau:
Mức lương kiếm được. Đây là khả năng truy cập tiền lương hoặc tiền lương của bạn trước ngày lĩnh lương để bạn có thể thanh toán cho một khoản chi phí bất ngờ.

Huấn luyện tài chính. Một số người sử dụng lao động hoàn trả chi phí cho việc huấn luyện tài chính.

Các khoản cho vay hoặc trợ cấp ngắn hạn khó khăn. Một số người sử dụng lao động cho phép tiếp cận các khoản vay hoặc trợ cấp cho các chi phí đột xuất nằm ngoài phạm vi bảo hiểm của khả năng tiếp cận tiền lương kiếm được. Những khoản này được trao dưới dạng khoản trợ cấp mà bạn không cần phải trả lại hoặc dưới dạng một khoản cho vay với lãi suất rất thấp – dưới 5 phần trăm.

Ngoài những lợi ích này và nếu bạn tự kinh doanh, bạn có thể tự thực hiện các bước chăm sóc sức khỏe tài chính để thay đổi tình hình của mình.

Các bước này có thể bao gồm:
Đàm phán nợ thẻ tín dụng
Điều này có thể được thực hiện thông qua hợp nhất hoặc đơn giản là yêu cầu giảm tỷ lệ của bạn. Bạn có thể kiểm tra một công ty có tên Hello Resolve sẽ giúp bạn hợp nhất nợ miễn phí. Người đồng sáng lập của công ty, Michael Bovee, cũng có các video YouTube nhiều thông tin, được nghiên cứu kỹ lưỡng về cách Tự làm hợp nhất nợ thẻ tín dụng.

Thực hành chánh niệm về tiền bạc
Chánh niệm về tiền là một thực hành mang lại nhận thức cho các quyết định tài chính. Bội chi và nhiều hình thức lo lắng về tài chính là kết quả của việc lựa chọn tiền bạc một cách vô thức.

Để thực hành chánh niệm về tiền bạc, tôi khuyên bạn nên hít thở sâu ba lần trước khi đưa ra bất kỳ quyết định tài chính nào. Nâng cao nhận thức về các lựa chọn tiền bạc của bạn sẽ giảm chi tiêu mà bạn hối tiếc sau này và giúp khôi phục cảm giác bình tĩnh khi đối mặt với các quyết định tài chính đáng sợ mà bạn cảm thấy ngoài tầm kiểm soát của mình.

Có một ngày kiếm tiền
Ngày kiếm tiền là một phương pháp chăm sóc sức khỏe hàng tuần mà tôi đề xuất cho tất cả độc giả của Money & Mimosas và các thành viên trả phí của tôi. Sự nhất quán của phương pháp này dạy bạn cách nâng cao nhận thức cho mọi quyết định tài chính và tạm dừng để ăn mừng chiến thắng, bất kể lớn hay nhỏ.

Điểm mấu chốt
Sức khỏe tài chính của bạn có ảnh hưởng đến cả sức khỏe thể chất và tinh thần của bạn. Dữ liệu đã chứng minh điều đó, và các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp sẽ sớm chú ý đến.

Tuy nhiên, tôi biết việc chờ đợi những người khác thay đổi để xóa bỏ bất bình đẳng xã hội có thể rất khó chịu. Trong khi chờ đợi, tôi hy vọng rằng những phương pháp chăm sóc sức khỏe tài chính này cung cấp cho bạn những công cụ cần thiết để giành lại quyền tự quyết trong cuộc đời của mình.

ĐẠI CƯƠNG VỀ THUỐC ĐÔNG Y Thuốc YHCT có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật xuất hiện từ kinh...
11/12/2021

ĐẠI CƯƠNG VỀ THUỐC ĐÔNG Y

Thuốc YHCT có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật xuất hiện từ kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của nhân dân mà tìm ra. Nguồn dược liệu tự nhiêu ngày càng cạn kiệt do vậy phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi để tạo ra nguyên liệu. Để sử dụng thuốc cần có sự hiểu biết nhất định về quá trình bào chế, tính năng dược vật, sự quy kinh, phối ngũ và kiêng kỵ đảm bảo hiệu quả và an toàn.
I. NGUỒN GỐC

Thuốc YHCT gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật và một số chế phẩm hoá học.

Sự xuất hiện của thuốc là do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của nhân dân mà tìm ra. Số lượng, chất lượng tiến bộ theo sự phát triển của nền sản xuất của xã hội.

Thời nguyên thuỷ, thực vật hay động vật do nguồn tự nhiêu cung cấp, sau thiếu dần phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi. Các loại thuốc khoáng vật pháp triển theo nguồn khai thác mỏ như thạch cao, chu sa, hùng hoàng…

Ở nước ta, trước khi có nền y tế Xã hội chủ nghĩa, các thuốc thường dùng đều phải nhập. Hiện nay ta đã tìm và xác định theo khoa học được nhiều cây thuốc có trong nước, một số thuốc đã di thực được như: sinh địa, bạch truật, huyền sâm, bạch chỉ… Một số vị thuốc do điều kiện đất đai, thổ nhưỡng chưa di thực được còn phải nhập.

II. THU HÁI BẢO QUẢN

- Thu hái

Các bộ phận cây thuốc có thời kỳ sinh trưởng nhất định nên thời gian thu hái khác nhau để đảm bảo tỷ lệ hoạt chất cao nhất.

Gốc, củ, vỏ, rễ: Đầu xuân cuối thu, mùa đông (lúc cây khô héo hoạt chất tập trung tại rễ). Mầm, lá, mùa xuân hè. Hoa thu hái lúc ngậm nụ hoặc mới nở như hoa cúc, hoa kim ngân. Quả thu hái lúc đã chín, hạt thu hái lúc quả thật chín.

- Bảo quản:Tránh ẩm thấp, nóng, ánh sáng mặt trời, sâu mọt. Cần đậy kín thuốc có tinh dầu, phơi chỗ râm (âm can).

III. BÀO CHẾ ĐƠN GIẢN

1. Mục đích

a. Làm mất hoặc làm giảm chất độc của thuốc. Thí dụ: Bán hạ dùng sống gây ngứa, nên phải chế với nước gừng. Ba đậu có dầu gây ỉa chảy dữ dội, cần bào chế làm mất chất dầu, giảm độc tính.

b. Điều hoà lại tính năng của vị thuốc, làm hoà hoãn hoặc tăng công hiệu.

Có một số vị thuốc dùng sống, chín tác dụng khác nhau. Thí dụ: Sinh địa dùng sống tính lạnh mát dùng để thành nhiệt lương huyết. Thục địa là Sinh địa đem nấu chín với rượu tính hơi ấm dùng để bổ huyết.

c. Bỏ tạp chất, làm cho sạch

d. Qua bào chế, giúp cho bảo quản dễ dàng, sử dụng thuận lợi, dự trữ được thuốc vì thuốc thực vật sinh trưởng có mùa.

2. Phương pháp bào chế

- Dùng lửa (hoả chế): Dùng lửa trực tiếp hay gián tiếp hong, sấy, đốt làm khô ráo, sém vàng, thành than.

a. Nung: bỏ ngay vị thuốc vào lửa đỏ, hoặc nung trong nồi chịu lửa, thường dùng choc ác loại thuốc kháng vật: Mẫu lệ, Từ thạch… làm cho mất nước tăng tác dụng hấp thu hoặc thu sấp.

b. Bào: cho vị thuốc vào chảo sao trong chốc lát, đến khi sém vàng xunh quanh, nứt nẻ, làm giảm tính mãnh liệt của thuốc như Bào khương.

c. Lùi:đem vị thuốc bọc giấy ướt hay cám lùi voà tro nóng hoặc than đến khi giấy cháy, cám cháy là được để thu hút một số hoạt chất có dầu, làm giảm bớt độc tính của thuốc như Cam toại.

d. Sao: đem vị thuốc cho vào nồi rang, chảo mà sao, là phương pháp hay dùng nhất. Tuỳ mức độ nóng khác nhau ta có sao vàng: Bạch truật, Hoài sơn; sao cháy; Quả dành dành; sao đen (thành than tồn tính vẫn giữ nguyên hình dạng chưa thành tro): Trắc bá diệp. Thường sao vàng để kiện tỳ, sao đen để cầm máu.

e. Sấy: sấy thuốc trên than, trong lò sấy. Sấy khô: Cúc hoa, Kim ngân hoa; sấy vàng khô ròn như: Thuỷ điệt, Manh trùng.

f. Chích:(nước) chích là sao có tẩm mật, đường và các thành phần khác đến khi không dính là được. Chính để làm tăng tác dụng của vị thuốc, như chích cam thảo với mật để làm tăng tác dụng dinh dưỡng, nhuận phế.

- Dùng nước (thuỷ chế): Dùng nước làm cho vị thuốc sạch, mềm dễ thái giảm độc tính.

a. Rửa: làm sạch chất bẩn, đất.

b. Giặt sạch: Lâu công hơn rửa, dùng nguồn nước tưới vào thuốc cho trôi tạp chất.

c. Ngâm:Dùng nước nguội hay nước sôi để ngâm. Đào nhân ngâm nước dễ bóc vỏ. Nếu vị thuốc cứng phải ngâm lâu cho mềm dễ thái, giảm độc tính.

d. Tẩm: Ngâm cho mềm vị thuốc dễ bào nhỏ

e. Thuỷ phi: Cho thêm nước vào nghiền chung với thuốc để tán nhỏ mịn và thuốc không bay ra như Hoạt thạch, Chu sa, Thanh đại.

3. Phối hợp dùng lửa nước (thuỷ hoả hợp chế)

a. Chưng: chưng cách thuỷ cho chín, hoặc chưng với rượu như thục địa để làm mất tính đắng lanh của thuốc, thây đổi công hiệu.

b. Nấu: đém thuốc nấu với nước, nước sắc vị thuốc khác, giấm. Nấu lấy tinh chất hoà tan rồi cô thành cao.

c. Tôi: đem vị thuốc nung đỏ tôi với nước, giấm làm cho tan rã và ngậm nước, thường dùng cho các loại khoán vật.

Ngoài ra còn dùng giấm, rượu nước cơm, nứơc muối ăn mà chế chung với các cách tẩm, ngâm nước, nướng, sao, chưng để đạt yêu cầu chữa bệnh: rượu đưa lên, gừng phát tán, muối vào thận, giấm vào can.

IV. TÍNH NĂNG DƯỢC VẬT

Tính năng dược vật là tác dụng dược lý của vị thuốc để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng về âm dương trong cơ thể.

Tính năng của vị thuốc gồm khí vị, thăng giáng, phù trầm và bổ tả.

1. Tứ khí

Còn gọi là tứ tính gồm: hàn (lạnh), nhiệt (nóng), ôn (ấm), lương (mát) Bốn loại tính chất này do sự phản ứng cơ thể khi dùng thuốc, mà nhận thấy.

Hàn lương thuộc âm; nhiệt, ôn, thuộc dương. Những thuốc hàn dương còn gọi là âm dược dùng để thanh nhiệt hoả, giải độc, tính chất trầm giáng chữa chứng nhiệt, dương chứng. Những thuốc ôn nhiệt còn gọi là dương dược để ôn trung, tán hàn, tính chất thăng phù để chữa chứng hàn, âm chứng.

Ngoài ra còn một số loại thuốc không rõ rệt tính chất hoà hoàn gọi là tính bình.

Vì vậy, muốn chữa bệnh và sử dụng thuốc đúng đắn, phải chẩn đoán bệnh xem thuộc chứng hàn hay chứng nhiệt, sau đó nắm chắc tính chất của thuốc để sử dụng. Chẩn đoán sai, dùng nhầm thuốc sẽ đem lại hậu quả không tốt cho người bệnh.

2. Ngũ vị

Thông qua vị giác mà nhận thấy vị: cay (tân), chua (toan), đắng (khổ) ngọt (cam), mặn (hàm) của vị thuốc. Ngoài ra còn vị đạm không có vị rõ rệt, nên có tài liệu ghi là lục vị.

Vị cay (tân): có tác dụng bổ dưỡng để chữa các chứng hư, hoà hoãn để giảm cơn đau, bớt độc tính của thuốc hay giảm độc cơ thể khi dùng làm thuốc, điều hoà tính của các vị thuốc. như: Đẳng sâm, Hoàng kỳ bổ khí; Thục địa, Mạch môn bổ âm; Kẹo mạch nha chữa cơn đau dạ dày.

Vị đắng (khổ): có tác dụng tả hạ và táo thấp dùng để chữa chứng nhiệt, chứng thấp, như: Hoàng liên, Hoàng bá thanh nhiệt trừ thấp chữa lỵ và ỉa chảy nhiễm trùng; Thương truật kiện kỳ táo thấp chữa ỉa chảy, đờm nhiều.

Vị chua (toan): hay thu liễm, cố sáp, chống đau dùng để chữa chứng ra mồ hôi (tự hãn), ỉa chảy, di tinh. Như Kim anh, Sơn thù liễm mồ hôi, cố tinh, sáp niệu, Kha tử, Ngũ bột tử chữa ỉa chảy lâu ngày, sau trực tràng; Ô mai chữa đau bụng cho giun.

Vị mặn (hàm): hay đi xuống, làm mềm nơi bị cứng hoặc các chất ứ đọng cứng rắn (nhuyễn kiên), thường dùng chữa táo bón, lao hạch, viêm hạch; như: Mang tiêu (thành phần chủ yếu là Natrisulfat) gây nhuận tràng, tẩy.

Vị đạm: hay thắng thấp, lợi niệu dùng chữa các chứng bệnh do thuỷ thấp gây ra (phũ thũng), như: Ý dĩ, Hoạt thạch có tác dụng lợi niệu.

Ngũ vị có quan hệ rất mật thiết với tứ khí, ngũ tạng, ngũ sắc, trên cơ sở này để định tác dụng của thuốc, tìm thuốc và bảo chế thuốc:

* Quan hệ giữa khí và vị

Khí và vị kết hợp với nhau thành tính năng thuốc, không thể tách rời ra được.

Có những thứ thuốc một khí nhưng kiêm mấy vị: như Quế chi tính ôn nhưng vị ngọt, cay; Sinh địa tính lạnh nhưng vị đắng, ngọt.

Vì vậy khi sử dụng thuốc trên lâm sàng phải nắm đồng thời kỳ và vị của thuốc. Thí dụ: nếi sốt do biểu nhiệt dùng thuốc tân lương giải biểu như Bạc hà, Sài hồ; nếu sốt do thực hiện dùng thuốc đắng lạnh (khổ hàn) như Hoàng liên, Đại hoàng; do hư nhiệt vì tân dịch hao tổn dùng thuốc ngọt lạnh (cam hàn) như Sinh địa: Huyền sâm.

Tính

Tên thuốc

Vị

Tác dụng

Ôn (ấm)

Gừng sống

Hậu phác

Hoàng kỳ

Ô mai

Cay

Đắng

Ngọt

Chua

Tán hàn giải biểu

Hành khí

Kiện tỳ

Cố sáp (cầm ỉa chảy)

Hàn (lạnh)

Hoàng liên

Phù bình

Đắng

Cay

Thanh nhiệt trừ thấp

Tân lương giải biểu

Hàn ôn

Lô căn

Camthảo

Ngọt

Ngọt

Thanh nhiệt tả hoả

Kiện tỳ

Hàn lương nhiệt

Thạch cao

Bạc hà

Phụ tử

Cay

Thanh nhiệt tả hoả

Tân lương giải biểu

Trừ hàn

* Quan hệ giữa ngũ vị, ngũ sắc, ngũ tạng

Người xưa dựa vào quan hệ này để tìm cây thuốc, sơ bộ nhận xét vềtác dụng lâm sàng: vị chua, sắc xanh vào can: vị ngọt, sắc vàng vào tỳ: vị cay, sắc trắng vào phế: vị đắng, sắc đỏ vào tâm: vị mặng sắc đen vào thận.

Quan hệ này chỉ đạo sự quy kinh của thuốc sẽ nói ở mục sau:

3. Thăng, giáng, phù, trầm

Thăng giáng phù trầm là chỉ xu hướng tác dụng của thuốc: thăng là đi lên, giáng là đi xuống, phù là phát tán ra ngoài, trầm là thẩm lợi vào trong và xuống dưới.

Các vị thuốc thăng và phù đều đi lên, hướng ra ngoài thường có tác dụng: thăng dương, phát biểu, tán hàn. Các vị thuốc trầm và giáng thường đi xuống và vào trong nên có tác dụng: tiềm dương, giáng nghịch, thu liễm, thẩm lợi, tả hạ.

Tính chất thăng, giáng, phù, trầm, quan hệ mật thiết với khí, vị và tỷ trọng nặng, nhẹ của vị thuốc. Khí, vị: vị cay, ngọt, tính ôn nhiệt thuộc dương thường là các vị thuốc thăng như Ma haòng, Quế chi, Gừng, vị đắng, chua, mặng, tính hàn, lương thuộc âm thường là các thuốc trầm, giáng như Đại Hoàng, Mang tiêu, Hoàng liên. Tỷ trọng: thuốc loại hoa, lá là những vị thuốc nhẹ thuốc loại phù thăng như Lá sen, Bạc hà, Kinh giới: các vị thuốc khoáng vật, hạt, quả có tỷ trọng nặng thuộc trầm giáng như Mẫu lệ, Long cốt, Tô tử Chỉ thực, Thục địa.

Trên lâm sàng, bệnh tật phát sinh ở những vị trí khác nhau của cơ thể: trên, dưới, trong, ngoài, Xu thế của bệnh có khi nghịch lên trên (nôn, nấc), khi giáng xuống dưới (ỉa chảy, sa trực tràng)… nên khi dùng các loại thuốc có phân biệt khác nhau.

- Bệnh tại biểu thường dùng các thuốc phù thăng mà không dùng thuốc trầm giáng: bệnh tại lý, dưới thường dùng các thuốc trầm giáng mà không dùng thuốc phù thăng.

- Bệnh nghịch lên trên cây rức đầu dùng Thạch quyết minh, Mẫu lệ để trầm giáng. Bệnh thể đi xuống thì dùng các thuốc đi lên như chứng tỳ hư hạ hàm gây chứng sa trực tràng phải dùng các thuốc kiện tỳ, thăng dương như Hoàng kỳ thăng ma, Sài hồ để chữa, nếu dùng thuốc đắng lạnh để hạ, bệnh lại càng nặng thêm.

Tính chất thăng, giáng, phù, trầm của vị thuốc còn có thể thay đổi tuỳ theo sự bào chế và sự phối ngũ: về bào chế vị thuốc sao với rượu thì đi lên, sao với nước ngừng thì phát tán, sao với giấm thì thu liễm, sao với muối thì đi xuống: thí dụ Hương phụ vị cay, đắng, tính ôn là loại thuốc trầm giáng, về phối ngũ: vị thuốc thăng phù dùng với đa số vị thuốc trầm giáng sẽ đi xuống, vị thuốc trầm giáng ở cùng nhiều vị thuốc thăng phù có thể theo đó mà đi lên trên.

4. Bổ tả

Bệnh tật là qúa trình đấu tranh mất đi hay phát triển của chính khí và tà khí. Vì vậy bệnh tật có 2 mặt: hư và thực.

Nguyên tắc chữa bệnh: hư thì bổ, thực thì tả, do đó tính năng của thuốc căn cứ yêu cầu chữa bệnh còn chia làm 2 loại bổ và tả.

Trong khi vận dụng thuốc để chữa bệnh trước hết phải nắm được khí, vị sau đó tiến lên phân loại thuốc bổ hay tả. Thí dụ: Hoàng liên tính hàn có tác dụng thanh nhiệt táo thấp là thuốc tả; Thiên môn tính hàn, chữa âm hư gây sốt là thuốc bổ: Đào nhân có tác dụng hoạt huyết chữa chứng ứ huyết là thuốc tả: Bạch thược bổ huyết chữa chứng huyết hư là thuốc bổ.

Trên thực tế lâm sàng, do tính chất phức tạp của bệnh tật, chứng hư và chứng thực lẫn lôn, hoặc bẩm tố là hư mắc thêm bệnh mới thì khi dùng thuốc phải vận dụng bổ tả cùng dùng để chữa bệnh (công bổ kiêm trị).

V. SỰ QUY KINH CỦA THUỐC

Quy kinh là tác dụng đặc biệt của các vị thuốc đối với các bộ phận khác nhau của cơ thể, tuy về tính năng dược vật (khí, vị, bổ, tả) có thể giống nhau, nhưng tác dụng chữa bệnh ở các vị trí lại khác nhau. Thí dụ: bệnh nhiệt phải sử dụng thuốc hàn lương, nhưng nhiệt ở phế, vị, đại tràng… khác nhau, phải sử dụng thuốc khác nhau.

Sự quy kinh của thuốc căn cứ vào:

1. Trên cơ sở hệ kinh lạc và các trạng phủ để thể hiện sự quy kinh. Quy kinh là đem tác dụng của vị thuốc quan hệ với: lục phủ ngũ tạng và 12 kinh mạch, nói rõ tác dụng của vị thuốc đối với bệnh trạng của phủ, tạng, kinh lạc nào đó.

Theo kinh nghiệm thực tế lâm sàng, người xưa đã tổng kết một số các triệu chứng quy nạp thành hội chứng bệnh của từng kinh lacj, từng tạng phủ, sau đó nghiên cứu tác dụng của thuốc thấy nó tác dụng vào kinh lạc, tạng phủ nào.

Thí dụ: Cát cánh, Hạnh nhân chữa chứng ho hen thuộc bệnh của phế: Táo nhân vào tâm kinh vì nó tác dụng an thần: Cương tàm vào can vì chữa co giật.

2. Sự quy kinh lấy lý luận ngũ hành làm cơ sở, đặc biệt là quan hệ giữa ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng. Như cam thảo màu vàng vị ngọt chữa bệnh ở tỳ và vị: Mang tiêu mặn và đen vào thận; Chu sa đắng và đỏ vào tâm…

3. Căn cứ vào học thuyết kinh lạc về sự liên quan chặt chẽ giữa các đường kinh để thể hiện sự quy kinh:

- Sài hồ là vị thuốc chữa bệnh thuộc đởm kinh cũng có tác dụng chữa vào kinh can (sơ can giải uất, thanh can minh mục) vì can và đởm có quan hệ biểu lý về đường kinh và tạng phủ.

- Câu đằng là vị thuốc bình can tức phong chữa bệnh ở kinh can, cũng có tác dụng đến tâm bào lạc vì kinh can và kinh tâm bào lạc cũng là kinh quyết âm.

Trên thực tế lâm sàng, ta thấy một số vị thuốc có nhiều tác dụng khác nhau, chữa nhiều bệnh khác nhau vì sự quy kinh của nó vào nhiều tạng phủa khác nhau như hạt Sen có tác dụng cầm ỉa chảy, cầm di tinh, an thần vì vào kinh tỳ, thận, tâm. Ô mai voà kinh phế, tỳ, can nên có tác dụng chữa ho, cầm ỉa chảy, chưa đau bụng giun. Có những vị thuốc vào cả 12 kinh như Cam thảo nên việc dùng rất rộng rãi và phổ biến (trong sách Thương hàn luận có 250 bài thuốc thì 120 bài có Cam thảo).

Khi nghiên cứu tác dụng của thuốc, nắm được sự quy kinh có thể giúp cho sự vận dụng tổng hợp các vị thuốc được chính xác, giải thích được sự phối hợp của các vị thuốc mà bản thân chúng nằm ở các chương khác nhau. Thí dụ: Bạch thược, Sài hồ hay phối hợp với nhau vì chúng đều quy vào kinh can (Sài hồ là thuốc giải biểu, Bạch thược là thuốc bổ âm).

VI. SỰ PHỐI HỢP CỦA CÁC VỊ THUỐC

Phối ngũ là việc sử dụng hai vị thuốc trở lên, nó là cơ sở cho việc tạo thành các bài thuốc dùng trên lâm sàng.

Mục đích của sự phối ngũ các vị thuốc là để phát huy hiệu lực chữa bệnh, hạn chế tác dụng xấu của vị thuốc, mặt khác để thích ứng với những chứng hậu bao gồm nhiều triệu chứng phức tạp trong quá trình bệnh tật.

Có mấy loại phối ngũ sau đây:

- Tương tu: 2 thứ thuốc cùng một tác dụng hỗ trợ kết quả cho nhau

- Tương sử: 2 vị thuốc trở lên dùng chung, một thứ là chính một thứ là phụ để nâng cao hiệu quả chữa bệnh.

Tương tu và tương sử là hai loại phối ngũ thường thấy nhất

- Tương uý:khi một thứ thuốc có tác dụng xấu dùng chung với một vị khác để chế ngự: Thí dụ: Bán hạ sống gây ngứa dùng với Gừng cho hết ngứa.

- Tương sát:một vị thuốc có độc, dùng với một vị khác để tiêu trừ độc tính trở lên không độc.

Tương uý và tương sát là sự phối ngũ thường thấy đối với các thuốc độc.

- Tương ố:hai thứ thuốc dùng chung với nhau sẽ làm giảm hoặc làm mất hiệu lực của nhau như Hoàng cầm vơi Sinh khương.

- Tương phản: một số ít thuốc đem phối ngũ gây tác dụng độc thêm, như Ô dầu với Bán hạ.

Tương ố và tương phản là sự phân phối ngũ nói trên sự cấm kỵ trong khi thuốc dùng.

- Ngoài ra còn lối dùng đơn độc một vị thuốcmà tác dụng như Độc sâm thang (có một vị Nhân sâm).

Bảy loại phối ngũ này YHCT gọi là thất tình hoà hợp.

VII. SỰ CẤM KỴ TRONG KHI DÙNG THUỐC

7.1. Những vị thuốc cấm kỵ khi có thai

a. Loại cấm dùng: Ba đậu (tả hạ), Khiên ngưu, Đại kích, Thương lục (trục thuỷ): Tam thất (hoạt huyết); Sạ hương (phá khí); Nga truật, Thuỷ diệt, Manh trùng (phá huyết). Các vị thuốc trên có tác dụng trục thuỷ, tả hạ, phá khí, phá huyết.

b. Loại dùng thận trọng: Đào nhân, Hồng hoa (hoạt huyết); Bán hạ, Đại hoàng (tả hạ): Chỉ thực (phá khí); Phụ tử, Can khương, Nhục quế (đại nhiệt). Các vị thuốc trên có tác dụng phá khí, tả hạ, hoạt huyết, đại nhiệt.

7.2. Các vị thuốc tương phản lẫn nhau

- Cam thảo chống: Cam toại, Nguyên hoa, Hải tảo

- Ô dầu phản: Bối mẫu, Bán hạ, Bạch cập, Bạch liễm.

- Lê lô phản: các loại Sâm, Tế tân, Bạch thược

7.3. Cấm kỵ trong khu uống thuốc

Cam thảo, Hoàng liên, Cát cánh, Ô mai kiêng ăn thịt lợn: Bạc hà kiêng Ba ba; Phục linh kiêng gấm.

Khi ăn uống chú ý không nên dùng các thức ăn chống lại tác dụng của thuốc.

Thí dụ: dùng thuốc ôn trung trừ hàn (nóng ấm) không ăn các đồ ăn lạnh; dùng các thuốc kiện tỳ, tiêu đạo không nên ăn chất béo, chất khó tiêm dùng thuốc an thần không nên ăn chất kích thích.

TS. BS Bùi Đức Hán - Bv Đa khoa YHCT Hà Nội

Address

Số 236 Kinh Dương Vương, Phường Hòa Minh, Quận Liên Chiểu, Thành Phố Đà Nẵng
Da Nang

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhà Thuốc Tuệ Lâm posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share