03/08/2025
BỆNH HUYẾT ÁP THẤP - THIẾU MÁU NÃO VÀ RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH. ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN THẬT SỰ VÀ CÁCH CHỮA TRỊ HIỆU QUẢ?
Chứng bệnh Huyết áp thấp gây thiếu máu lên não, rối loạn tiền đình làm đau đầu chóng mặt, cảm giác mệt mỏi không muốn làm việc gì. Đây là một chứng bệnh phổ biến khá nhiều người mắc phải nhưng khi đi khám bệnh viện thì các bác sĩ tây y chỉ cho vài viên thuốc bổ như sắt, acid folic, vitamin B6, B12... cộng với lời dặn dò bệnh nhân về ăn uống đầy đủ là huyết áp sẽ tự lên và khỏi bệnh??!
Nhưng những thuốc "bổ máu" đó liệu có thể nâng được huyết áp của người bệnh sau nhiều năm hay không? Bởi vì tới thời điểm hiện tại này thì Y học hiện đại vẫn xem huyết áp thấp là một hội chứng do cơ địa chứ không phải bệnh nên không có một phác đồ điều trị rõ ràng hay các loại thuốc đặc trị.
Bản thân tôi không phải thầy thuốc giỏi, nhưng qua học tập kinh nghiệm của các bậc tiền bối và điều trị cho nhiều bênh nhân Huyết áp thấp và thiếu máu não nên đúc kết được một số kinh nghiệm điều trị nên mạo muội chia sẻ ra đây hy vọng hữu ích cho người bệnh đang đi tìm phương pháp phù hợp.
Y học cổ truyền, hay còn gọi là Đông y xếp chứng bệnh thiếu máu não do huyết áp thấp vào nhóm bệnh thuộc chứng KHÍ HUYẾT SUY KÉM.
Khí là danh từ để chỉ phần sinh năng, năng lượng vận hành trong cơ thể, bao gồm khí lực, sức mạnh, hơi thở, công năng vận hành của các tạng phủ… Chứng Khí hư là tên gọi chung chỉ công năng tạng phủ trong cơ thể bị giảm sút, nguyên khí bất túc dẫn đến chứng trạng suy yếu toàn thân. Nguyên nhân thường do tuổi cao, mắc các chứng nội thương, bệnh nặng, lao động mệt nhọc, ăn uống kém thiếu dinh dưỡng, mất nhiều máu hay mất máu trong thời gian dài hoặc do cơ địa bẩm thụ tiên thiên từ cha mẹ kém (sinh ra đã yếu do quá trình mang thai ảnh hưởng)… là những nguyên nhân chính gây nên chứng Khí Hư.
Biểu hiện thường gặp của chứng KHÍ HƯ:Mệt mỏi, yếu sức, không muốn làm việc, tinh thần chán nản.Đoản hơi (hơi thở ngắn), vận động nhiều hay thở gấp, tiếng nói nhỏ, hụt hơi biếng nói.Đau nhức vai gáy và đau lưng, thoái hóa cột sống, tê tay tê chânĂn kém, không thiết ăn, ăn khó tiêu, hay bị tiêu lỏngSắc mặt trắng bệch, chóng mặt, hoa mắt.Tim đập nhanh loạn xạ, tự ra mồ hôi, sợ gió, sợ lạnh, dễ bị cảmHay mắc tiểu, không nhịn lâu được.Nữ rối loạn kinh nguyệt, kinh ra nhiều, rong kinh kéo dài, nam giới dương sự kém. Trẻ em chậm lớn, ăn uống kém, xương mềm, răng tóc thưa ít.
Huyết là danh từ chỉ chung về máu và các công năng của máu, huyết dịch trong cơ thể. Chứng Huyết hư là tên gọi chung cho các biểu hiện do máu và huyết dịch trong cơ thể bất túc (không đủ), tạng phủ mất sự nuôi dưỡng dẫn đến suy nhược toàn thân. Nguyên nhân phần nhiều do nội thương bệnh lâu ngày, tư lự quá độ, mệt mỏi, ăn uống thiếu thốn kéo dài… ngấm ngầm làm hao tổn ẩm huyết. Chứng Huyết Hư đa phần gặp ở phụ nữ vì kinh nguyệt và thụ thai sinh đẻ đều lấy âm huyết làm gốc.
Biểu hiện thường gặp của chứng HUYẾT HƯ:Sắc mặt xanh sao, không tươi, trắng nhợt hoặc vàng bủng.Chóng mặt, hoa mắt, tối sầm mặt khi ngồi xuống đứng lênKhó ngủ, ngủ chập chờn, hay giật mình, hay mộng mị, nằm mơ linh tinh.Đau đầu, khó tập trung, trí nhớ kém, hay quên vặt.Tinh thần hay bất an, hoảng loạn, sợ sệt, hay lo lắng, hồi hộp không rõ nguyên nhân.Thay đổi thời tiết, khí hậu thường hay nghẹt mũi, sổ mũi, sốt nóng lạnh từng cơn.Chân tay tê dại, cơ thịt hay mỏi, môi và móng tay nhợt nhạt, tóc rụng, da khô.Người già ngủ ít, táo bón, hay lẫnPhụ nữ hành kinh muộn, kinh ít, sắc nhợt, bụng đau nhiều thậm chí bế kinh.
Qua phân tích các biểu hiện của Khí Hư và Huyết Hư chúng ta thấy các chứng bệnh Huyết áp thấp, Suy nhược, Thiếu máu đều thuộc phạm vi của hai chứng này.
Chính vì vậy việc điều trị chứng bệnh Huyết áp thấp-Thiếu máu não gây rối loạn tiền đình phải lấy việc thăng Khí, bổ Khí và Huyết làm gốc.
BÀI THUỐC CHỮA BỆNH HUYẾT ÁP THẤP
1. Đảng sâm (sao cám) 25g
2. Bạch truật (sao cám) 12g
3. Chích kỳ 20g
4. Đương quy 12g
5. Thăng ma 12g
6. Sài hồ 12g
7. Bạch chỉ 12g
8. Trần bì 10g
9. Chích thảo 10g
10. Đại táo 3quả
Gia giảm:
- Người mập thì thêm : Đỗ trọng 20g
- Người gầy thì thêm : Hoài sơn (sao vàng) 20g
Cách dùng:
Nước 1; cho thuốc vào ấm đổ 3-4 bát nước, đun sôi, nhỏ lửa, sắc khi nào còn 7phân ( lưng bát/chén), thì chắt ra.
Nước 2; đổ 2-3 (bát/chén) vào sắc còn 1/2 bát.
Đổ chung 2 nước lại, chia 2 lần uống trong ngày, uống vào lúc nửa buổi sáng và nửa buổi chiều.
Liệu trình:
Mỗi đợt điều trị uống 10 thang, uống trong 20 ngày. Cách ngày uống 1 thang( ngày uống, ngày nghỉ).
Cũng tuỳ từng cơ địa, sức khoẻ của mỗi người, nên có thể uống một hay vài liệu trình như vậy, thấy không còn mệt mỏi, sức khoẻ tốt lên thì ngưng.
CHÚC MỌI NGƯỜI LUÔN KHỎE MẠNH