11/02/2022
GIỚI LUẬT LÀ NỀN TẢNG CỦA SỰ GIÁC NGỘ
Cuối cùng, khi biết không thể chinh phục được Thái tử, Ma vương bèn bảo rằng chỗ ngồi để thành đạo không phải là chỗ để Thái tử ngồi, mà là chỗ của Ma vương vì công đức của Ma vương nhiều hơn công đức của Thái tử. Thái tử bèn hỏi Ma vương rằng lấy gì để làm chứng cho lời tuyên bố này. Ma vương bèn chỉ vào binh chúng hùng hậu của mình và nói rằng có họ làm chứng. Rồi Ma vương bèn quay sang hỏi Thái tử đã có được công đức gì mà cầu thành Phật. Thái tử trả lời rằng trong vô lượng kiếp Ngài đã thực hành các pháp Ba-la-mật để độ sanh, công đức ấy có thể giúp Ngài thành tựu đạo quả. Để chứng minh lời tuyên bố này, Ngài bèn đưa tay phải chạm xuống đất, quả đất liền chấn động. Thấy vậy, Ma vương kinh sợ trước oai lực của Thái tử, khởi tâm kính phục và biến mất. Những sự kiện này đã được minh họa trong các công trình điêu khắc và nghệ thuật Phật giáo tại Ấn Độ. Những pho tượng Phật ngồi trong tư thế kết ấn xúc địa (bhūmi-sparśa-mudrā) cũng là những pho tượng phổ biến nhất tại các thánh tích Phật giáo. Thái tử Tất-đạt-đa đã nhiếp phục các chướng ma, dù nội tâm hay ngoại cảnh, bằng chính đức độ và ý chí của mình. Ma vương, binh chúng, và quyến thuộc của họ đã thất bại trong việc phá hoại sự tu tập của Thái tử, nhưng tâm họ không hề khởi lên sự căm thù, phẫn nộ, mà ngược lại, họ cảm thấy kính phục Ngài bội phần. Đây chính là sự khác biệt giữa chiến thắng bằng gươm đao, vũ khí để đưa đến cảnh chết chóc, thù hận và chiến thắng bằng nghị lực, tình thương và tâm bao dung để dẫn đến sự chuyển hóa những vọng tưởng hoang dại và tà ngụy thành nhận thức chân chính và trong sáng.
Đối với các bậc thánh, niềm đam mê của họ không phải là những cảm giác dục lạc hay tiếng gọi của danh vọng; nỗi ưu tư của họ không phải là sự đe dọa, uy hiếp bằng bạo lực, cường quyền của kẻ khác, nhưng điều làm cho họ thao thức là lý tưởng sống, là chân ý nghĩa của cuộc sống. Với Thái tử Tất-đạt-đa, mục đích tối hậu trong sự tầm cầu của Ngài là sự thật đằng sau cảnh sanh, già, bệnh, chết, và đâu là nguyên nhân của vô thường, khổ đau. Chính trong đêm thành đạo, Thái tử đã khám phá được sự thật ấy, truy nguyên được ngọn nguồn của khổ đau, và liễu ngộ được chân lý của vũ trụ.
Trong Tăng chi bộ kinh III, phẩm IX pháp, đức Phật đã kể lại cho gia chủ Tapussa và tôn giả A-nan về tiến trình chứng ngộ trong đêm thành đạo đó là chín cấp bậc thiền chứng từ sơ thiền cho đến diệt thọ tưởng định, gọi là Chín cấp bực thiền chứng theo thứ lớp (cửu thứ đệ định, bao gồm tứ thiền, tứ không và diệt thọ tưởng định).
Ngài còn xác quyết rằng chỉ sau khi thuận thứ và nghịch thứ chứng đạt và xuất khởi chín cấp độ thiền chứng này, Ngài thấy bằng trí tuệ, mọi lậu hoặc bị đoạn diệt, khi đó Ngài mới thành tựu Chánh đẳng chánh giác. Khả năng “thấy bằng trí huệ” này, theo Đại kinh Saccaka (Trung bộ I) và kinh Dạy Vacchagotta về Tam Minh (Trung Bộ II) chính là Tam minh (tevijjā), tức Túc mạng minh (Pubbenivāsānussati), Thiên nhãn minh (Cutūpapāta- ñāṇa), và Lậu tận minh (Āsavakkhaya-ñāṇa). Theo Đại kinh Saccaka, sau khi chứng đắc bốn thiền chứng từ sơ thiền đến tứ thiền, đức Phật tiếp tục chứng đắc được Tam minh, tức ba loại thắng trí. Một số văn bản khác ghi lại rằng vào canh đầu, canh giữa, và canh cuối[7] của đêm thành đạo, Thái tử Tất-đạt-đa tuần tự chứng đắc ba loại thắng trí là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, và Lậu tận minh[8].
Kinh tạng Nikāya thường nói đến sáu loại thắng trí (abhiññā, cũng gọi là lục thông) mà đức Phật (Đại kinh sư tử hống, Trung bộ kinh I) và các đệ tử của Ngài (Tương ưng II, Thiên nhân duyên, chương Tương ưng Ca-diếp) đã chứng đắc sau khi thành tựu được các cấp bậc thiền chứng trong Phật giáo, đó là Thần túc thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Thiên nhãn thông, và Lậu tận thông. Đây chính là sáu năng lực thù thắng, là kết quả tự nhiên của công năng thiền định chân chính. Ba loại thắng trí sau cùng chính là ba loại trí tuệ siêu thế mà đức Phật đã thành tựu trong đêm thành đạo.
Túc mạng minh là loại trí mà nhờ đó đức Phật nhớ biết vô số kiếp sống của Ngài trong quá khứ với tất cả mọi chi tiết về danh xưng, chủng tộc, dòng họ, thọ mạng, và ngay đến cả việc thọ dụng thực phẩm, những cảm thọ sanh khởi, v.v… Trong kinh Sa môn quả (Trường Bộ I) đức Phật đã nói về thắng trí này qua ẩn dụ một người đi từ làng này qua làng khác, và anh ta nhớ rõ tất cả những chi tiết, đặc điểm của mỗi ngôi làng như thế. Thiên nhãn minh là trí nhận biết, thấu rõ hành nghiệp nhân quả trong vòng sanh tử của vô số chúng sanh. Với trí này, đức Phật cũng thấy được những sự việc đang diễn ra cách Ngài rất xa, dù bị ngăn cản bởi các chướng vật. Kinh điển ghi lại rằng sau khi thành đạo tại Gaya, đức Phật dùng thiên nhãn này thấy năm anh em tôn giả Kiều-trần-như đang trú tại Ba-la-nại (kinh Thánh cầu, Trung bộ I); hay khi đang trú tinh xá Kỳ Viên, Ngài cũng dùng thiên nhãn thấy mẹ của Nanda cúng dường vật thực cho hội chúng của hai tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền- liên (Tăng chi bộ, chương Sáu pháp, phẩm Chư thiên). Lậu tận minh chính là trí tuệ viên mãn, có khả năng đoạn trừ mọi phiền não nhiễm ô, tận diệt vô minh, thành tựu sự giác ngộ và giải thoát toàn triệt. Khi thành tựu trí này, hành giả trực nhận được nguyên lý Tứ thánh đế cũng như nguồn gốc, nguyên nhân, và con đường đưa đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Khi đó “tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát. Vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”[9] (kinh Sa môn quả – Trường bộ I). Trong ba loại trí này, hai loại trí đầu giúp cho hành giả thấu hiểu mọi sự thật về nguyên lý nghiệp và tái sanh, trong khi đó loại trí sau cùng chính là một sự chuyển hóa tâm thức toàn triệt.