26/06/2026
TÌM LẠI TUỔI VỠ LÒNG NƠI ĐỈNH NÚI PHJA KHAO XA VỜI (Hồi ký tuổi thơ)
# hồikýtuổi thơphòngkhámPgsĐức
# phongkhampgsĐức103
Trong hai ngày 24 và 25/5/2026 vừa qua, vợ chồng tôi cùng vợ chồng cô bạn bác sĩ thời sinh viên y khoa đã thực hiện một chuyến hành trình đặc biệt: trở về thăm lại Phja Khao – nơi lưu giữ cả một vùng trời kỷ niệm tuổi thơ tôi cùng gia đình. Một chuyến đi mà đã có dự định và khao khát trong nhiều năm trời!
Đỉnh Phja Khao quanh năm mây mù bao phủ, nằm ở độ cao hơn 1000m thuộc huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn, nay đã trở thành vùng lõi và vùng đệm của Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Nam Xuân Lạc. Chặng đường chinh phục đỉnh núi thật sự gay go với con đường 12 km xuất phát từ Bản Thi dốc dựng đứng, quanh co, một bên là vách đá cao vút, một bên là vực sâu thăm thẳm. Nhưng nhờ tay lái vô cùng vững vàng trên chiếc xe bán tải hai cầu của anh Sơn – một cựu sĩ quan đặc công đã từng chỉ huy một trong những phân đội đánh Trạm ra đa núi Bà Đen, Tây Ninh thời chống Mỹ, đồng thời là phu quân của cô bạn học năm xưa – chúng tôi đã vượt qua tất cả để trở về với hoài niệm. Chuyến đi mang lại cho tôi vẹn nguyên cảm xúc và lòng biết ơn vô hạn đối với bố mẹ, những người đã khai sinh và cho tôi có được một quá khứ để tự hào, một hiện tại để trân quý.
KÝ ỨC VỀ NGƯỜI CHA, NGƯỜI MẸ VÀ NHỮNG NĂM THANG TỰ LẬP TỪ TUỔI LÊN 6
Phja Khao xưa kia là một vùng núi nguyên sinh cao ngất, hoang sơ. Sau ngày hòa bình lập lại, cơ quan của bố mẹ tôi tiếp quản khu vực khai thác kẽm, chì từ thời thực dân Pháp để tiếp tục thăm dò địa chất, dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia Tiệp Khắc.
Ngày ấy, để con cái được học hành, bố mẹ phải gửi anh em tôi đi học trọ tại một thị trấn xinh đẹp bên bờ sông Gâm, cách nhà gần một trăm cây số khi tôi mới vừa tuổi học vỡ lòng (6 tuổi). Vì vậy, có lần, đứa cháu ngoại khi mới học lớp 2 ngây thơ hỏi tôi: "Thế ông ơi, hồi đấy ai tắm rửa cho ông?". Tôi bật cười bảo: "Chẳng ai tắm cho cả, ông phải tự tắm chứ!".
Tuổi thơ của tôi là những ngày tự nhảy xuống sông Gâm vẫy vùng. Quần áo cả thảy chỉ có hai bộ, có khi chẳng kịp giặt, cứ nóng là nhảy xuống sông rồi lên bờ mặc lại vào người cứ thế đi học, đi chơi. Những ngày mùa đông rét mướt, gió mùa đông bắc tràn về, tôi thích trò chơi, cứ phanh ngực áo chạy ngược chiều gió từ trên dốc thị trấn xuống, ngay trước một hiệu sách to đùng của Huyện được lợp bằng lá cọ. Có lần nghịch dại suýt chết, tôi lấy tấm bìa cát-tông ngồi lên bờ ta-luy mới đổ đất bên bờ sông rồi trượt xuống, chẳng may rơi tùm xuống nước, hai chân lọt thỏm vào gầm một nhà bè. May sao các bác trên bè kịp thời phát hiện, kéo lên. Thật là một trận hú vía! Đúng là đã qua một thời “tự sinh”, “tự tồn”. Còn, mỗi lần bố đi công tác ở tỉnh về qua thị trấn nơi tôi trọ học, cụ đều mang theo quà cho anh em tôi. Khi thì đôi guốc mộc, lúc đôi dép cao su, khi thì đồ chơi bằng gỗ thô sơ, khi lại là bộ quần áo mới hay vài xu lẻ để mua bánh bò của người Hoa trong thị trấn; nhưng thường nhất là những gói cốm can xi màu trắng mà tôi rất thích ăn vì nó ngọt và ăn xong một vốc là no. Những chi tiết ấy in sâu vào tâm khảm tôi cho đến tận bây giờ. Đến khi tôi trưởng thành, đi làm và có lương, cũng là lúc bố mẹ đã nghỉ hưu. Cụ chưa bao giờ bảo: "Con đưa tiền cho bố", và tôi – đáng trách thay – cũng chưa từng một lần chủ động biếu tiền cho bố. Giờ đây, khi ngồi nghĩ lại, lòng tôi trào dâng niềm thương bố và sự ân hận tột cùng, nước mắt cứ thế rớm chảy…
KÝ ỨC NHỮNG CHUYẾN VƯỢT NÚI BĂNG RỪNG VỚI THIÊN NHIÊN HOANG SƠ CỦA PHJA KHAO KHI TÔI TUỔI 6-7
Tôi vẫn nhớ như in sự háo hức mỗi dịp nghỉ hè, nghỉ Tết để được về với bố mẹ. Tôi cứ lẽo đẽo đi theo anh trai cả – người lớn hơn tôi đến chục tuổi – trên quãng đường dài cả trăm cây số. Đầu tiên là đi bộ 15 cây số, hoạ hoằn lắm mới gặp được chiếc ô tô tải của cơ quan bố mẹ cho đi nhờ. Sau đó, chúng tôi lên tuyến tàu hỏa chạy bằng hơi nước loại nhỏ do Pháp để lại (cũng là của cơ quan bố mẹ tôi), có cả toa chở khách lẫn toa chở quặng. Tàu chạy xuyên qua những hang đá, phía dưới là ngầm nước sâu thẳm. Mỗi lần qua đoạn ấy, tôi lại nín thở, bám chặt lấy anh trai vì sợ... thuồng luồng dưới hang động kia ngoi lên. Vượt qua 35km đường tàu, hai anh em lại tiếp tục đi bộ, leo lên những con đường đá dốc đứng, quanh co bên vách đá và vực sâu liên tục khoảng hơn 12 cây số. Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy những chiếc goòng chở quặng từ thời Pháp bị mắc kẹt lơ lửng giữa lưng chừng trời nơi vực thẳm. Có những đoạn dốc nguy hiểm, dù mệt rã rời nhưng tôi vẫn phải vắt chân lên cổ mà chạy vì sợ đá treo trên vòm núi phủ lên con đường phía dưới rơi xuống đầu. Bây giờ trở lại nhìn những khối đá treo lơ lửng kia vẫn đứng trơ trơ vắt qua đoạn đường ấy. Nhưng hiểu ra rằng đó là những khối thạch nhũ phải mất cả triệu năm để hình thành, chẳng dễ gì rơi được
TÌM LẠI DẤU TÍCH XƯA VÀ QUẢ ĐẬP “CHÁY LƯỚI” THỜI TUỔI TRẺ
Gia đình tôi và cơ quan của bố mẹ đã gắn bó với đỉnh Phja Khao này từ năm 1958 cho đến tháng 6 năm 1963 bố mẹ tôi được chuyển công tác xuống vùng thấp hơn - vùng trung du và miền núi phía Bắc - nơi “quê hương cách mạng dựng nên cộng hoà” (Lúc này tôi bắt đầu vào học lớp 3 nhưng vẫn phải đi học trọ cho đến hết phổ thông trừ 2 năm lớp 4 và lớp 7 là được gần nhà nhưng cũng phải đi bộ 5-7 cây số để đến trường).
Chuyến đi lần này, do đường sá lên đỉnh quá nguy hiểm, vợ tôi và cô bạn bác sĩ Lợi phải ở lại một quán ăn dưới xã Bản Thi. Tôi cùng anh Sơn tiếp tục lên đỉnh. Bước đi trên mảnh đất xưa, dù mọi thứ giờ đã bị vùi lấp dưới lớp cây cối và cỏ dại, nhưng ký ức tuổi 6, 7 trong tôi vẫn hiện lên vẹn nguyên, rõ ràng như một thước phim tua chậm.
Đứng từ khu đất ngày xưa là lò mổ Batoa, tôi chỉ cho anh Sơn những địa danh mang tên Tây mà hồi nhỏ tôi thường nghe người lớn gọi như Na Panh, Mán Suộc... nằm sâu dưới thung lũng. Hướng mắt về dãy núi đá, kia là nhà ga goong cáp treo chở quặng năm nào. Phía sau là khu nhà của các chuyên gia Tiệp Khắc tiếp quản từ các chủ Tây để lại. Ngay phía dưới đền Phja Khao là những dãy nhà cấp 4 xây dựng kiên cố từ thời Pháp thuộc bị bỏ hoang, nên ngày ấy chúng tôi dùng quả bưởi phơi héo hái ở Đền, hoặc cuộn những nụn lá chuối khô để làm quả bóng vào đó đá mỗi khi trời mưa.
Tôi cũng chỉ cho anh Sơn khu nhà tắm nước nóng vòi sen tập trung dành cho cán bộ công nhân, và khu hội trường cơ quan – nơi tôi và bạn Nhâm (con của một bác thợ rèn từng làm cho Pháp rồi làm cho ta) đã cùng nhau chơi bóng bàn. Ngày ấy làm gì có vợt xịn, bố bạn Nhâm tự chế vợt từ một vòng tròn sắt bọc mảnh áo mưa rách để làm mặt vợt. Vậy mà có ngờ đâu, chính từ chiếc vợt thô sơ ấy đã nuôi dưỡng tôi trở thành một tay vợt bóng bàn có tiếng suốt thời thiếu niên, nhi đồng cho đến thời thanh niên của tỉnh Tuyên Quang, thường dành giải nhất nhì của tỉnh và cả những năm tháng học tập dưới hai mái trường Đại học Y khoa. Đến tận bây giờ, những người quen cũ vẫn thường nhắc về những quả đập "cháy lưới" của tôi năm ấy. Thời đó, trong một giải thiếu niên của tỉnh, tôi đã gặp lại bạn Nhâm trong trận chung kết đầy duyên nợ. Tôi đã giành chức vô địch trong niềm vui vỡ òa. Từ đó đến nay, chúng tôi mất liên lạc. Giờ này bạn ở đâu? Mong rằng bạn có thể đọc được những dòng này, để chúng ta có cơ hội gặp lại nhau ở cái tuổi xế chiều...
Tôi dẫn anh Sơn đến đầm nước nhỏ – nơi những ngày hè xưa tôi cùng đám bạn bì bõm tập bơi rồi trèo lên ngọn núi đá gần đó nhổ những củ “dái đá” mọc trong các hốc núi để ăn và bóc vỏ những cây quế dại ăn cũng thấy cay cay. Trong ký ức trẻ thơ của tôi ngày ấy, cái đầm này lớn và sâu lắm, vậy mà giờ nhìn lại sao nhỏ bé và nông cạn đến thế. Có lẽ đối với đôi mắt trẻ thơ, những gì gắn liền với sở thích và đam mê đều trở nên vĩ đại. Nhưng chính sự "vĩ đại" của ký ức đó đã nhào nặn và nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành.
LỜI KẾT: KHÉP LẠI CHUYẾN ĐI, MỞ RA LÒNG BIẾT ƠN
Đỉnh Phja Khao ngày ấy hoang vu lắm. Mùa hè cực mát, mùa đông rét cắt da cắt thịt. Có những buổi chiều quang mây, đứng từ hiên ngôi nhà do người Pháp xây mà gia đình tôi sinh sống, nhìn ánh nắng chiều vàng trải dài trên sườn đồi cỏ xa xa, hay dưới thung lũng sâu, vực thẳm, từng cặp nai mẹ nai con ung dung gặm cỏ, đưa mõm với lấy những nhành lá non ăn ngon lành, cảnh tượng đẹp như tranh vẽ, như chuyện thần tiên. Thậm chí có hôm chúng tôi còn thấy cả gấu đen, hổ vằn hay những đàn lợn rừng nanh trắng ngà thấp thoáng lượn lờ dưới vực. Đêm về, khi ánh điện trong các ngôi nhà bừng sáng, những chú chim cút béo múp bằng nắm tay lại bay vào nhà nhiều vô kể nhất là những đêm mưa gió.
Sau một ngày quay lại để khám phá, lục tìm và nhặt nhạnh từng mảnh ký ức, lòng tôi trào dâng một niềm xúc động nghẹn ngào. Mọi kỷ niệm cứ thế ùa về, khiến tôi càng thêm kính yêu và biết ơn bố mẹ vô ngần. Dù trong hoàn cảnh gian khó, thiếu thốn trăm bề, các cụ vẫn luôn có tầm nhìn xa trông rộng, hy sinh tất cả vì tương lai học vấn của các con.
Phja Khao hôm nay có thể đã trở thành một địa danh du lịch sinh thái, tâm linh, một nơi khám phá thiên nhiên tuyệt đẹp. Nhưng với thế hệ của bố mẹ tôi và các đồng nghiệp của các cụ thời bấy giờ, đây là vùng rừng thiêng nước độc. Nếu ngày ấy bố mẹ không dũng cảm, không nghĩ xa cho con cái, thì chắc chắn sẽ không có tôi của những ngày đã qua và cả tôi của ngày hôm nay.
Cảm ơn Phja Khao – nơi đã cho tôi một tuổi thơ hòa mình cùng thiên nhiên vĩ đại, và đặc biệt là đã rèn luyện cho tôi một ý chí biết vượt khó, biết tự lực cánh sinh ngay từ khi mới lên 6, lên 7 tuổi.
Các bạn thời thơ ấu ở Phja Khao của tôi ơi, ước gì giờ này chúng ta có thể kết nối được với nhau...
Tôi vẫn ước muốn có một ngày, sẽ trở lại Phji Khao vì tôi vẫn chưa đủ thời gian để lục hết mọi ký ức, mọi địa danh nơi đây theo trí nhớ và tưởng tượng của tuổi thơ tôi.
Và tôi cũng thật tiếc vì bố mẹ tôi đã không còn để đưa các cụ về lại miền ký ức.
Hồ Ba Bể, đêm 25/5/2026
Bs Đức