BS. Hoàng Thanh Tùng - Dr. T Hoang

BS. Hoàng Thanh Tùng - Dr. T Hoang Glôcôm - Thần kinh - Nhãn khoa tổng quát
Tiến sĩ - Bác sĩ nội trú Nhãn khoa
Bác sĩ Việt Nam đầu tiên hành nghề tại Bệnh viện Mắt Sydney

Khoa Mắt Bệnh viện Westmead tuyển dụng vị trí Fellow Sau nội trú chuyên ngành Giác mạc và Đục thể thủy tinh phức tạp – H...
23/06/2026

Khoa Mắt Bệnh viện Westmead tuyển dụng vị trí Fellow Sau nội trú chuyên ngành Giác mạc và Đục thể thủy tinh phức tạp – Hợp đồng xác định thời hạn 12 tháng - Thu nhập dự kiến 78000 AUD (6500 AUD/ tháng)

Được một người bạn đang làm ở đây nhờ chia sẻ thông tin tới cộng đồng bác sĩ nhãn khoa ở Việt Nam nên tôi lược dịch thông báo tuyển dụng để bạn đọc dễ theo dõi. Sydney có 2 cơ sở chăm sóc nhãn khoa lớn nhất là Bệnh viện Mắt Sydney ở trung tâm và Bệnh viện Westmead ở phía tây (Parramata). Gần đây Bộ Y tế đang dự thảo thông tư về đào tạo chuyên khoa và chuyên khoa sâu. Để hiểu thế nào là đào tạo chuyên khoa sâu, các bạn có thể đọc thông báo phía dưới. Đây là cơ hội rất tốt dành cho các bác sĩ đam mê phẫu thuật giác mạc và thể thủy tinh khó. Tôi sẵn sàng hỗ trợ miễn phí cho đồng nghiệp nào muốn dấn thân theo con đường này.

Thông tin tuyển dụng
https://jobs.health.nsw.gov.au/wslhd/jobs/fixed-term-12-months-0-34fte-postgraduate-fellow-%E2%80%93-cornea-and-complex-cataracts-department-of-ophthalmology-westmead-hospital-apply-via-ecredential-340672

Bài cũ về fellowship

Đào tạo clinical fellowship (chuyên khoa sâu) đã trở thành xu hướng tất yếu của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
https://www.facebook.com/share/p/17va1TjEfb/

KINH NGHIỆM APPLY FELLOWSHIP CHO CÁC BÁC SĨ NỘI TRÚ MẮT Ở VIỆT NAM
https://www.facebook.com/share/p/1DB9QhTo3o/

Nội trú Mắt ở Úc được đào tạo như thế nào
https://www.facebook.com/share/p/18w367bPiE/

Kính mời các bác sĩ có đủ năng lực và điều kiện phù hợp nộp hồ sơ ứng tuyển cho vị trí fellow giác mạc và phẫu thuật thể thủy tinh tại Western Sydney Local Health District. Vị trí này chủ yếu làm việc tại Khoa Mắt Bệnh viện Westmead.

Ứng viên trúng tuyển sẽ tham gia khám bệnh tại các phòng khám Mắt, thực hiện các thủ thuật/phẫu thuật cần thiết theo tiêu chuẩn phù hợp, tham gia giám sát các bác sĩ nội trú chuyên khoa và bác sĩ kiến tập, đồng thời tham gia công tác giảng dạy và đào tạo.

Người được lựa chọn có thể đủ điều kiện được công nhận năng lực chuyên môn và cấp quyền hành nghề tại các cơ sở khác trong Western Sydney Local Health District.

Khoa Mắt Bệnh viện Westmead là một cơ sở đa chuyên ngành, cung cấp dịch vụ khám và điều trị ngoại trú, nội trú, phẫu thuật nhãn khoa và quản lý chăm sóc bệnh mạn tính tại cộng đồng. Nhóm đa chuyên ngành bao gồm nhân viên y tế, điều dưỡng, nhân viên y tế liên quan như chỉnh thị, nhân viên hành chính, nhân viên chăm sóc cộng đồng và quản lý, giúp dịch vụ vận hành hiệu quả trong bối cảnh nhu cầu cao. Mỗi năm, khoa tiếp nhận khoảng 28.000 lượt khám ngoại trú, 2.000 lượt phẫu thuật và 700 lượt dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng.

Dịch vụ ngoại trú nhãn khoa tiếp nhận bệnh nhân mắc các tình trạng mắt cấp tính, mạn tính và cấp cứu. Khoa thực hiện phẫu thuật mắt thường quy và cấp cứu, đồng thời cung cấp hệ thống trực cấp cứu 24/7 cho Bệnh viện Westmead.

Dịch vụ phẫu thuật giác mạc bao gồm xử trí thủng giác mạc, ghép giác mạc điều trị nhiều bệnh lý và bằng nhiều kỹ thuật ghép khác nhau, ghép tế bào gốc vùng rìa, điều trị nội khoa các bệnh lý giác mạc, bệnh bề mặt nhãn cầu bao gồm cả quản lý ung thư. Dịch vụ phẫu thuật đục thể thủy tinh phức tạp bao gồm phẫu thuật thể thủy tinh trong các tình huống khó như giác mạc biến dạng, mắt đã ghép giác mạc, dây chằng Zinn không ổn định và treo thể thủy tinh vào củng mạc. Dịch vụ có sự phối hợp với các chuyên khoa nội, ngoại khác cũng như các chuyên ngành sâu khác trong nhãn khoa.

Vị trí này có thời hạn 12 tháng, bắt đầu từ tháng 2 năm 2027.
Các yêu cầu thiết yếu để được lựa chọn:
1. Có hoặc đủ điều kiện đăng ký hành nghề với Medical Board of Australia và có Fellowship của Royal Australian and New Zealand College of Ophthalmologists (RANZCO), hoặc bằng cấp tương đương theo quy định của Staff Specialists (State) Award. Ứng viên phải có giấy phép hiện hành của NSW Environment Protection Authority nếu áp dụng.
2. Có kiến thức lâm sàng vững chắc trong nhãn khoa, được chứng minh thông qua thực hành lâm sàng thành công trong môi trường phù hợp với yêu cầu của vị trí.
3. Đã hoàn thành ít nhất 250 ca phẫu thuật phaco điều trị đục thể thủy tinh nhằm chứng minh khả năng phẫu thuật thể thủy tinh độc lập.
4. Đã hoàn thành một năm senior registrar nhằm chứng minh năng lực lãnh đạo/giám sát các bác sĩ đào tạo trẻ hơn, cũng như khả năng quản lý quy trình làm việc tại phòng khám và phòng mổ.
5. Ứng viên được lựa chọn cần có nền tảng nghiên cứu vững chắc với các công bố trên các tạp chí bình duyệt.
6. Ứng viên được kỳ vọng sẽ tiến hành nghiên cứu tại WSLHD.
7. Thể hiện kỹ năng lãnh đạo trong giám sát các bác sĩ trẻ tại môi trường lâm sàng cũng như trong các dự án nghiên cứu.

Tiêu chí tuyển chọn:
1. Có các bằng cấp và chứng chỉ cần thiết cho phạm vi hành nghề cốt lõi trong chuyên ngành.
2. Có bằng chứng về các bằng cấp bổ sung, kỹ năng và/hoặc kinh nghiệm cần thiết cho phạm vi hành nghề chuyên biệt trong chuyên ngành.
3. Thể hiện các kỹ năng và thái độ phù hợp với thực hành của một bác sĩ chuyên khoa cao cấp, bao gồm:
Có khả năng làm việc hiệu quả và hài hòa với các đồng nghiệp và các nhân viên y tế khác trong một nhóm chăm sóc sức khỏe đa chuyên ngành.
Có khả năng giao tiếp hiệu quả với bệnh nhân và đồng nghiệp.
Có kỹ năng tổ chức, giám sát và phối hợp xuất sắc, đồng thời thể hiện khả năng xây dựng các mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau.
Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng và năng lực chuyên môn ở mức cần thiết cho thực hành y khoa hiện đại.
Có kinh nghiệm và tham gia vào các hoạt động đảm bảo chất lượng, cũng như chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực hành nhằm cải thiện an toàn người bệnh và chất lượng chăm sóc.
4. Thể hiện khả năng quản lý thời gian và nguồn lực một cách hiệu quả, đồng thời đóng góp vào hiệu quả và hiệu suất của hệ thống chăm sóc sức khỏe.
5. Thể hiện năng lực phù hợp với vai trò lãnh đạo lâm sàng, được chứng minh qua:
Tư duy hệ thống và khả năng chấp nhận rủi ro hợp lý.
Cam kết tự chăm sóc bản thân và phát triển cá nhân.
Khả năng duy trì sự chính trực cá nhân, chịu được áp lực và thể hiện sự bền bỉ.
Cam kết xây dựng các mối quan hệ, lãnh đạo và phát triển người khác.
Tập trung vào kết quả và đầu ra.
6. Cam kết thực hành quản trị tốt, đạt được kết quả và quản lý rủi ro.
7. Thể hiện cam kết đối với giáo dục, đào tạo và nghiên cứu, phù hợp với yêu cầu của vị trí.

Kiểm tra làm việc với trẻ em
Ứng viên phải cung cấp bằng chứng về Working with Children Check do Office of Communities Commission for Children and Young People cấp. Để biết thêm thông tin về cách xin xác nhận này, vui lòng truy cập trang web của Commission for Children and Young People: https://ocg.nsw.gov.au/working-children-check

Liên hệ chi tiết

PGS Krishna Tumuluri
Phone: 0401 373 554
Email: [email protected]
Hoặc
GS Chameen Samarawickrama
Phone: 0468 383 801
Email: [email protected]

Nhân ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21/06, xin trân trọng gửi những lời chúc tốt đẹp nhất tới những người chiến sĩ trên...
21/06/2026

Nhân ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21/06, xin trân trọng gửi những lời chúc tốt đẹp nhất tới những người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, xã hội, tư tưởng. Chúc các nhà báo, các thầy cô anh chị đang làm việc trong lĩnh vực đào tạo báo chí luôn mạnh khoẻ, may mắn, thành công với mọi dự định công việc và giữ vững lý tưởng phụng sự đất nước. Cảm ơn sự đồng hành không mệt mỏi của báo chí trong sự nghiệp trong sóc sức khoẻ nhân dân.

Chạy thận nhân tạo và Glôcôm - Nguy cơ hiện hữuMột nghiên cứu mới trên Ophthalmology Glaucoma năm 2026 đặt ra một vấn đề...
19/06/2026

Chạy thận nhân tạo và Glôcôm - Nguy cơ hiện hữu

Một nghiên cứu mới trên Ophthalmology Glaucoma năm 2026 đặt ra một vấn đề rất đáng chú ý: bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo có nguy cơ cao hơn phải điều trị hạ nhãn áp, bao gồm cả dùng thuốc và phẫu thuật glôcôm.

Mục tiêu
Đánh giá nguy cơ phải điều trị hạ nhãn áp ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo.

Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, sử dụng dữ liệu hồ sơ bệnh án điện tử từ mạng lưới TriNetX US Collaborative Network.

Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân từ 20 đến 85 tuổi, được chẩn đoán suy thận giai đoạn cuối và phụ thuộc chạy thận nhân tạo, được so sánh với một nhóm chứng khỏe mạnh.

Phương pháp
Tỷ lệ mắc và nguy cơ tương đối cần dùng thuốc hoặc phẫu thuật hạ nhãn áp được tính toán ở nhóm bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo và nhóm chứng trong phân tích chưa hiệu chỉnh.

Sau đó, phương pháp ghép điểm xu hướng được thực hiện để ghép hai nhóm theo tuổi và giới trong Mô hình 1. Mô hình 2 bao gồm Mô hình 1, đồng thời ghép thêm theo các bệnh lý toàn thân đi kèm như đái tháo đường, tăng huyết áp và các bệnh khác. Giá trị chênh lệch trung bình chuẩn hóa được sử dụng để đánh giá chất lượng ghép nhóm.

Tỷ lệ tích lũy và tỷ số nguy cơ, kèm khoảng tin cậy 95%, đối với điều trị hạ nhãn áp được tính toán cho các tiêu chí điều trị glôcôm tại thời điểm 5 năm sau ngày mốc.

Tiêu chí đánh giá chính
Nguy cơ cần các điều trị hạ nhãn áp mới, bao gồm điều trị bằng thuốc và phẫu thuật.

Kết quả
Phân tích chưa hiệu chỉnh cho thấy nhóm bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo có tỷ lệ phải dùng thuốc hoặc phẫu thuật hạ nhãn áp cao hơn so với nhóm chứng, lần lượt là 9,57% so với 4,38%, với P < 0,001.

Trong Mô hình 1, nhóm bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo có tỷ lệ mắc cao hơn có ý nghĩa thống kê và tỷ số nguy cơ tăng đối với việc cần điều trị hạ nhãn áp mới, bao gồm dùng thuốc hoặc phẫu thuật, trong vòng 5 năm sau ngày mốc: HR 1,94; khoảng tin cậy 95%: 1,81–2,07.

Trong Mô hình 2, nhóm bệnh nhân này vẫn có tỷ số nguy cơ cao hơn có ý nghĩa thống kê đối với điều trị hạ nhãn áp mới, bao gồm dùng thuốc hoặc phẫu thuật: HR 1,36; khoảng tin cậy 95%: 1,26–1,46; dùng thuốc hạ nhãn áp: HR 1,38; khoảng tin cậy 95%: 1,32–1,44; bắt đầu dùng thuốc mới: HR 1,36; khoảng tin cậy 95%: 1,27–1,46; và phẫu thuật mới: HR 1,57; khoảng tin cậy 95%: 1,20–2,05 tại thời điểm 5 năm.

Đặc biệt, trong Mô hình 2, nhóm bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo có tỷ số nguy cơ đặc biệt cao đối với việc cần đặt thiết bị dẫn lưu glôcôm: HR 2,09; khoảng tin cậy 95%: 1,34–3,25; và thủ thuật phá hủy thể mi: HR 3,72; khoảng tin cậy 95%: 2,10–6,59.

Kết luận
Nhóm bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo có nguy cơ cao hơn đáng kể phải điều trị hạ nhãn áp, từ điều trị bằng thuốc đến phẫu thuật. Đặc biệt, nhóm này có nguy cơ cao hơn phải đặt thiết bị dẫn lưu glôcôm hoặc thực hiện thủ thuật phá hủy thể mi, là những can thiệp phẫu thuật đôi khi được dành cho các trường hợp glôcôm tiến triển nặng hơn.

Do đó, bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo cần được theo dõi nhãn khoa chặt chẽ hơn nhằm phát hiện và can thiệp kịp thời.

Điểm đáng suy nghĩ là đặt thiết bị dẫn lưu glôcôm và phá hủy thể mi thường không phải là lựa chọn đầu tay cho các trường hợp nhẹ. Đây thường là những can thiệp được cân nhắc ở các ca glôcôm nặng, khó kiểm soát hoặc có nguy cơ mất thị lực cao. Vì vậy, kết quả nghiên cứu gợi ý rằng bệnh nhân chạy thận nhân tạo không chỉ có nguy cơ cần điều trị hạ nhãn áp cao hơn, mà còn có thể mang gánh nặng điều trị glôcôm nặng nề hơn.

Vì sao chạy thận có thể ảnh hưởng đến mắt?

Trong quá trình chạy thận, cơ thể trải qua những thay đổi nhanh về dịch, áp lực thẩm thấu, huyết áp và tuần hoàn. Những thay đổi này có thể ảnh hưởng đến nhãn áp, tưới máu đầu dây thần kinh thị giác và sự ổn định của môi trường nội nhãn. Một số bệnh nhân có thể xuất hiện dao động nhãn áp trong hoặc sau quá trình chạy thận. Về lâu dài, những biến động này có thể là một yếu tố góp phần làm tăng nhu cầu điều trị hạ nhãn áp.

Bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối đang chạy thận nhân tạo nên được khám mắt định kỳ, đặc biệt là đánh giá nhãn áp, góc tiền phòng, g*i thị, lớp sợi thần kinh võng mạc và thị trường khi cần thiết. Việc phát hiện sớm tăng nhãn áp hoặc glôcôm ở nhóm bệnh nhân này có thể giúp can thiệp kịp thời, tránh để bệnh tiến triển đến giai đoạn phải điều trị tích cực hơn.

Với bác sĩ mắt, đây là nhóm bệnh nhân cần được hỏi kỹ tiền sử bệnh thận và chạy thận. Với bác sĩ thận nhân tạo, đây cũng là một lời nhắc rằng thị lực là một phần quan trọng trong chất lượng sống lâu dài của người bệnh.

Chạy thận giúp duy trì sự sống. Theo dõi sức khỏe thị giác của mắt tốt giúp người bệnh giữ được ánh sáng trong hành trình sống ấy.

Link bài gốc:
Increased Risk of Intraocular Pressure-Lowering Treatment in Patients with End-Stage Renal Disease Undergoing Hemodialysis,
Ophthalmology Glaucoma
https://www.ophthalmologyglaucoma.org/article/S2589-4196(26)00070-0/abstract

Đọc thêm
- Sarr IL, Sakho B, Guisse EHCD, Fall R. Effects of Hemodialysis on Intraocular Pressure and Ocular Perfusion Pressure. Cureus. 2024
- Chen SH, Lu DW, Ku WC, Chuang LH, Ferng SH, Chen YJ, Lu YH, Chai PY. Changes in Intraocular Pressure During Hemodialysis: A Meta-analysis. J Glaucoma. 2021
- Protsyk O, Lacorzana J. The effects of hemodialysis on the eye. Indian J Ophthalmol. 2025
- Hendricks TM, Quist TS, Wang K, Antes LM, Boese EA. Effect of Hemodialysis on Glaucoma Patients. Clin Ophthalmol. 2025
- Lee K, Park S, Tantisattamo E, Ryu S, Yu S, Lim H, Huang AS, Lim SH. Factors Influencing Intraocular Pressure Elevation During Hemodialysis. Transl Vis Sci Technol. 2026
- Maja AK, Lewis CY, Steffen E, Zegans ME, Graber ML. Increased Intraocular Pressure During Hemodialysis: Ocular Dialysis Disequilibrium. Kidney Med. 2022
- Mies H, Manzur F, Verdaguer D S. Cyclodestructive treatment for symptomatic intraocular pressure elevation during hemodialysis: case reports and literature review. Arch Soc Esp Oftalmol (Engl Ed). 2025
- Lerma C, Saavedra-Fuentes N, Ledesma-Gil J, Calderón-Juárez M, Pérez-Grovas H, López-Gil S. Intraocular Pressure Changes during Hemodiafiltration with Two different Concentrations of Sodium in the Dialysate. Biology (Basel). 2021
- Lim SH, Shean R, Lee K, Ryu S, Tran E, Malhotra R, Weinreb RN, Xu BY, Huang AS. Increased Risk of Intraocular Pressure-Lowering Treatment in Patients with End-Stage Renal Disease Undergoing Hemodialysis. Ophthalmol Glaucoma. 2026
- Sweeya Donepudi VS, Devasena MMA, Annamalai R, Sannareddy PKR, Prasad ER. The Influence of Hemodialysis on Ocular Pressure Dynamics: An Observational Study on IOP and OPP Changes. J Curr Glaucoma Pract. 2025

Glôcôm: Bệnh cần điều trị và theo dõi suốt đời để bảo vệ thị lực(Bài viết gửi tặng cộng đồng nhân dịp "đập hộp" thành cô...
17/06/2026

Glôcôm: Bệnh cần điều trị và theo dõi suốt đời để bảo vệ thị lực
(Bài viết gửi tặng cộng đồng nhân dịp "đập hộp" thành công máy phẫu thuật phaco cắt dịch kính OS4, một vũ khí cực mạnh cho cuộc chiến bảo vệ thị giác của người bệnh glôcôm)

Glôcôm, hay còn gọi là bệnh thiên đầu thống/cườm nước, là một nhóm bệnh lý gây tổn thương đầu dây thần kinh thị giác. Đây là phần rất quan trọng giúp dẫn truyền hình ảnh từ mắt lên não. Khi dây thần kinh thị giác đã bị tổn thương do glôcôm, phần thị lực hoặc thị trường đã mất thường không hồi phục được.

Trong một số ít trường hợp đặc biệt, bệnh có thể ổn định rất tốt hoặc gần như được giải quyết nếu được phát hiện thật sớm và điều trị đúng thời điểm. Ví dụ, glôcôm góc đóng nguyên phát ở giai đoạn rất sớm, khi chưa có dính góc và chưa có tổn thương đầu dây thần kinh thị giác, có thể kiểm soát rất tốt sau phẫu thuật lấy thể thủy tinh. Hoặc tình trạng tăng nhãn áp do phản ứng với corticoid ở giai đoạn đầu có thể ổn định sau khi dừng corticoid và điều trị phù hợp.

Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, glôcôm là bệnh mạn tính, không khỏi hoàn toàn. Vì vậy, người bệnh cần hiểu rằng điều trị glôcôm không phải là điều trị một đợt ngắn rồi dừng, mà là một chiến lược lâu dài nhằm duy trì thị lực càng lâu càng tốt.

Nói một cách dễ hiểu, mục tiêu quan trọng nhất là giữ được thị lực hữu ích cho người bệnh trong suốt phần đời còn lại.

1. Glôcôm là bệnh điều trị theo tuổi thọ

Thời gian điều trị glôcôm được tính từ lúc người bệnh được chẩn đoán cho đến những năm cuối đời. Vì vậy, mỗi người bệnh sẽ có chiến lược điều trị khác nhau, tùy theo tuổi, mức độ tổn thương, nhãn áp, tình trạng mắt còn lại, bệnh toàn thân và khả năng tuân thủ điều trị.

Một người trẻ được chẩn đoán glôcôm cần một kế hoạch kiểm soát bệnh rất bền vững, vì còn nhiều chục năm phải sống chung với bệnh. Ngược lại, một người cao tuổi có tổn thương ổn định có thể cần một chiến lược điều trị vừa đủ, an toàn và phù hợp với sức khỏe chung.

2. Mục tiêu chính của điều trị glôcôm

Điều trị glôcôm không chỉ đơn giản là “hạ nhãn áp”. Mục tiêu lớn nhất là bảo vệ đầu dây thần kinh thị giác và duy trì chức năng nhìn cho người bệnh.

Trong thực hành, bác sĩ thường hướng tới hai mục tiêu chính:

Thứ nhất là đưa nhãn áp về mức nhãn áp đích. Nhãn áp đích là mức nhãn áp được cho là đủ an toàn đối với từng người bệnh, giúp làm chậm hoặc ngăn ngừa tiến triển tổn thương thần kinh thị giác. Mức nhãn áp này không giống nhau ở tất cả mọi người. Có người nhãn áp 18 mmHg đã đủ an toàn, nhưng cũng có người cần nhãn áp thấp hơn nhiều, đặc biệt khi bệnh đã ở giai đoạn nặng.

Thứ hai là bảo vệ đầu dây thần kinh thị giác. Bác sĩ sẽ theo dõi tình trạng lõm g*i thị, lớp sợi thần kinh võng mạc, thị trường để đánh giá bệnh có đang ổn định hay vẫn tiếp tục tiến triển.

Người bệnh cần nhớ rằng cảm giác nhìn “vẫn bình thường” không có nghĩa là bệnh đang ổn. Glôcôm thường tiến triển âm thầm, phần thị trường ngoại vi có thể mất dần trong khi thị lực trung tâm vẫn còn tốt. Vì vậy, khám lại định kỳ là yếu tố bắt buộc.

3. Các lựa chọn điều trị trong glôcôm

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị glôcôm. Tùy từng trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định một hoặc phối hợp nhiều phương pháp.

Thuốc tra mắt

Thuốc tra mắt là phương pháp điều trị phổ biến. Thuốc giúp làm giảm nhãn áp bằng cách giảm sản xuất thủy dịch trong mắt hoặc tăng thoát lưu thủy dịch ra ngoài.

Người bệnh cần tra thuốc đúng giờ, đúng số lần, đúng mắt và đúng loại thuốc. Không nên tự ý dừng thuốc khi thấy mắt dễ chịu hơn, cũng không nên tự mua thêm thuốc khi chưa có chỉ định. Một số thuốc có thể gây đỏ mắt, xót mắt, khô mắt, thay đổi nhịp tim hoặc khó thở ở người có bệnh tim phổi. Khi có bất thường, người bệnh nên báo lại với bác sĩ để được điều chỉnh phù hợp.

Laser

Laser có thể được sử dụng trong nhiều thể glôcôm. Ví dụ, laser mống mắt chu biên trong glôcôm góc đóng hoặc mắt có góc tiền phòng hẹp; laser tạo hình vùng bè trong một số trường hợp glôcôm góc mở; laser quang đông thể mi khi glôcôm tiến triển tới giai đoạn gần mù nhãn áp kém điều chỉnh.

Phẫu thuật

Phẫu thuật được chỉ định khi thuốc và laser không đủ kiểm soát bệnh, hoặc khi bệnh ở giai đoạn nặng cần hạ nhãn áp tích cực hơn. Một số trường hợp glôcôm góc đóng có liên quan nhiều đến thể thủy tinh cũng có thể được chỉ định phẫu thuật lấy thể thủy tinh để mở rộng góc tiền phòng và kiểm soát nhãn áp. Nặng hơn, người bệnh sẽ phải trải qua các phẫu thuật dẫn lưu thủy dịch ra ngoài nhãn cầu như cắt bè củng giác mạc hay đặt ống dẫn lưu hạ nhãn áp. Đây là những phẫu thuật xâm lấn nặng nề, gây nguy cơ chảy máu, nhiễm trùng, tụt nhãn áp, xẹp nhãn cầu. Quan trọng hơn, những phẫu thuật trên đi ngược với quá trình tiến hóa của cơ thể người là tạo ra lỗ rò. Để tự bảo vệ theo bản năng, cơ thể sẽ kích hoạt cơ chế tăng sinh xơ để bít lỗ rò nhưng vô tình kéo theo sự thất bại của phẫu thuật.

Vì vậy, sau mổ, để bảo tồn và duy trì lâu dài kết quả can thiệp, người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ hướng dẫn chăm sóc, dùng thuốc và lịch tái khám.

Liệu pháp hỗ trợ bảo vệ thần kinh thị giác

Bên cạnh kiểm soát nhãn áp, một số liệu pháp hỗ trợ bảo vệ đầu dây thần kinh thị giác có thể được cân nhắc trong từng trường hợp, chẳng hạn vitamin B3 hoặc citicolin.

4. Chăm sóc sau phẫu thuật glôcôm

Sau phẫu thuật, người bệnh cần đặc biệt chú ý chăm sóc mắt đúng cách để hạn chế biến chứng và giúp mắt hồi phục tốt.

Người bệnh nên vệ sinh mắt theo hướng dẫn của nhân viên y tế. Có thể rửa mắt bằng nước muối sinh lý. Khi lau mắt, cần dùng gạc sạch, thao tác nhẹ nhàng, tránh chạm mạnh hoặc đè ép lên nhãn cầu.

Khi nằm ngủ, cần tránh nằm đè lên mắt vừa phẫu thuật. Nếu được hướng dẫn dùng kính bảo vệ mắt, người bệnh nên đeo đúng cách, đặc biệt trong những ngày đầu sau mổ.

Việc tra thuốc sau mổ phải được thực hiện đúng đơn. Không tự ý bỏ thuốc, đổi thuốc hoặc dùng lại đơn thuốc cũ. Nếu mắt đau nhiều, đỏ tăng, nhìn mờ nhanh, chảy dịch bất thường hoặc buồn nôn, người bệnh cần đi khám ngay.

Người bệnh cũng nên tránh các động tác làm tăng áp lực lên mắt như ho mạnh kéo dài, rặn khi đi ngoài, hắt hơi quá mạnh, cúi gập người hoặc bê vác nặng trong giai đoạn sớm sau mổ. Nếu có ho, táo bón hoặc bệnh lý toàn thân đi kèm, cần báo với bác sĩ để được xử trí.

Chế độ ăn sau mổ nên đầy đủ dinh dưỡng, dễ tiêu, uống đủ nước và tăng cường rau xanh, chất xơ để tránh táo bón. Đây là chi tiết nhỏ nhưng rất quan trọng, vì rặn nhiều có thể ảnh hưởng không tốt đến mắt sau phẫu thuật.

5. Tầm quan trọng của tuân thủ điều trị

Glôcôm là bệnh mạn tính và đa số trường hợp không khỏi hoàn toàn. Vì vậy, tuân thủ điều trị là yếu tố quyết định để giữ thị lực lâu dài.

Tuân thủ điều trị bao gồm dùng thuốc đúng, đi khám đúng hẹn, làm các xét nghiệm cần thiết như đo thị trường, chụp cắt lớp đầu thị thần kinh, đo nhãn áp, soi góc tiền phòng và báo cho bác sĩ biết khi có bất thường.

Một trong những sai lầm thường gặp là người bệnh tự dừng thuốc vì thấy mắt không đau, không đỏ, nhìn vẫn rõ. Thực tế, glôcôm có thể tiếp tục tiến triển âm thầm dù người bệnh không có cảm giác khó chịu. Đến khi nhận ra nhìn mờ hoặc va vấp do mất thị trường, tổn thương thường đã nặng và khó phục hồi.

Người bệnh nên coi lịch tái khám glôcôm giống như một phần của cuộc sống, tương tự như người bệnh tăng huyết áp cần theo dõi huyết áp hoặc người bệnh đái tháo đường cần kiểm soát đường máu. Điều trị đều đặn hôm nay là cách tốt nhất để bảo vệ thị lực cho nhiều năm sau.

6. Điều chỉnh lối sống cho người bệnh glôcôm

Bên cạnh điều trị tại mắt, người bệnh glôcôm cần kiểm soát tốt các bệnh toàn thân. Tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, ngừng thở khi ngủ hoặc các bệnh lý mạch máu có thể ảnh hưởng đến tuần hoàn nuôi dưỡng thần kinh thị giác. Việc phối hợp điều trị với bác sĩ nội khoa, tim mạch, nội tiết hoặc hô hấp khi cần thiết là rất quan trọng.

Người bệnh cũng nên tránh các thói quen có thể làm tăng nhãn áp hoặc ảnh hưởng không tốt đến mắt. Ví dụ, không nên tập các tư thế yoga đảo ngược như trồng chuối, không thắt cà vạt hoặc cổ áo quá chặt, không cúi đầu lâu trong thời gian dài, không tự ý dùng thuốc có corticoid khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

Với người bệnh đã có tổn thương thị trường nặng, cần chú ý phòng tránh té ngã và va chạm trong sinh hoạt. Đồ đạc trong nhà nên được sắp xếp gọn gàng, cố định, tránh thay đổi vị trí liên tục. Lối đi cần đủ ánh sáng, không để vật cản dưới sàn. Nếu có thể, người bệnh nên sinh hoạt chủ yếu trên một mặt phẳng, hạn chế lên xuống cầu thang nhiều lần trong ngày.

Người bệnh cũng nên thông báo cho người thân về tình trạng thị trường của mình. Sự hỗ trợ của gia đình trong việc nhắc lịch khám, tra thuốc, sắp xếp nhà cửa và theo dõi bất thường có vai trò rất lớn trong quá trình điều trị lâu dài.

7. Thông điệp dành cho người bệnh

Glôcôm không phải là dấu chấm hết cho thị lực nếu được phát hiện, điều trị và theo dõi đúng cách. Nhưng glôcôm cũng không phải là bệnh có thể chủ quan.

Người bệnh cần hiểu rõ ba điều: bệnh thường không khỏi hoàn toàn; tổn thương đã mất thường không lấy lại được; và tuân thủ điều trị là cách tốt nhất để giữ phần thị lực còn lại.

Điều trị glôcôm là một hành trình dài giữa bác sĩ, người bệnh và gia đình. Nếu chúng ta kiên trì kiểm soát nhãn áp, bảo vệ thần kinh thị giác, khám lại đều đặn và điều chỉnh lối sống phù hợp, mục tiêu giữ được thị lực hữu ích đến cuối đời là điều hoàn toàn có thể hướng tới.

Biên soạn
TS.BSNT Hoàng Thanh Tùng
Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội - Phòng khám Đa khoa Cơ sở Cầu Giấy
Khoa Mắt - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Bộ môn Mắt - Khúc xạ nhãn khoa Đại học Y Hà Nội

It’s a great time to catch up with one of my best friends in optometry world, Prof Tim Fricke. We have come up with some...
15/06/2026

It’s a great time to catch up with one of my best friends in optometry world, Prof Tim Fricke. We have come up with some new ideas and hopefully we will have much more beer time together here in Hanoi or Melbourne.

Honorary Professorship Conferment

https://www.facebook.com/share/1CTLxAzbCP/?mibextid=wwXIfr

Xơ hóa dưới võng mạc là một biến chứng giai đoạn cuối quan trọng của thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể tân mạch (nAMD), ...
14/06/2026

Xơ hóa dưới võng mạc là một biến chứng giai đoạn cuối quan trọng của thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể tân mạch (nAMD), trong khi các lựa chọn điều trị lâm sàng cho nhóm bệnh nhân này vẫn còn hạn chế. Một nghiên cứu gần đây trên Progress in Retinal & Eye Research đã nhấn mạnh vai trò của tình trạng viêm dai dẳng tại vùng tiếp giáp hắc võng mạc mạc vùng hoàng điểm, vai trò của rối loạn điều hòa miễn dịch bẩm sinh, cũng như sự hoạt hóa bổ thể không kiểm soát trong việc thúc đẩy tiến triển xơ hóa. Nhóm nghiên cứu cũng nhấn mạnh nhu cầu phát triển những chiến lược điều trị mới cho nAMD, có khả năng tác động đồng thời lên VEGF và các con đường sinh lý bệnh thúc đẩy xơ hóa.

Bài gốc:
Xu H, Pu J, Yi C, Deng W, Yuan XL, Chen Z, Xiang Q, Wang Q, Wen F, Chen M. Macular Fibrosis Secondary to Neovascular Age-related Macular Degeneration: from Clinic to Biology. Prog Retin Eye Res. 2026
https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S1350946226000546

Nhú Bergmeister là một dấu tích còn sót lại từ thời kì bào thai của động mạch dịch kính rất hiếm gặp, thường không gây ả...
13/06/2026

Nhú Bergmeister là một dấu tích còn sót lại từ thời kì bào thai của động mạch dịch kính rất hiếm gặp, thường không gây ảnh hưởng lên bán phần sau. Tuy nhiên trong một số trường hợp nhú kích thước lớn có thể gây co kéo dịch kính võng mạc cạnh g*i và cần phải theo dõi sát để phát hiện sớm các biến đổi ảnh hưởng đến thị lực.

Link: https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4688?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

Citation đến từ Mayo Clinic của báo cáo về bệnh dị dạng mạch não tăng sinh gây tổn thương đồng tử Adie. Người thầy vĩ đạ...
12/06/2026

Citation đến từ Mayo Clinic của báo cáo về bệnh dị dạng mạch não tăng sinh gây tổn thương đồng tử Adie. Người thầy vĩ đại của mỗi bác sĩ chính là bệnh nhân của mình.

Poster đã lên sóng ở chuyên mục conference paper trên Heart BMJ, một trong những tập san khoa học lớn của chuyên ngành T...
11/06/2026

Poster đã lên sóng ở chuyên mục conference paper trên Heart BMJ, một trong những tập san khoa học lớn của chuyên ngành Tim mạch. Hi vọng original study tới đây sẽ có những kết quả thú vị về giá trị của công cụ tiên lượng biến cố mạch vành từ phân tích cấu trúc mạch máu võng mạc trên bệnh nhân Việt Nam.

Vinh dự được phản biện cho tạp chí Ophthalmology Glaucoma và đứng cùng hàng ngũ với các tên tuổi lớn của chuyên ngành gl...
09/06/2026

Vinh dự được phản biện cho tạp chí Ophthalmology Glaucoma và đứng cùng hàng ngũ với các tên tuổi lớn của chuyên ngành glôcôm trên thế giới.

My great honor and privillege to serve as a reviewer of Ophthalmology Glaucoma. It's a special feeling to be a part of the tribe.

Address

Số 1, Tôn Thất Tùng, Đống Đa
Hanoi
11518

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00

Telephone

+84327955888

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when BS. Hoàng Thanh Tùng - Dr. T Hoang posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to BS. Hoàng Thanh Tùng - Dr. T Hoang:

Shortcuts

Share