Phòng khám Cột sống - Cơ Xương Khớp

Phòng khám Cột sống - Cơ Xương Khớp Điều trị dứt điểm tận gốc căn nguyên gây bệnh THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM - THOÁI H Bệnh thoát vị đĩa đệm là một trong những bệnh mạn tính cần điều trị dài ngày.

Chính vì thế Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Hội nghiên cứu Đau Quốc tế IASP khuyến cáo, trong điều trị Thoát vị đĩa đệm trước tiên cần lựa chọn các phương pháp không dùng thuốc cho bệnh nhân vừa đảm bảo tính hiệu quả và tính an toàn cao cho người bệnh. Chỉ định phẫu thuật chỉ được đặt ra khi điều trị nội khoa không kết quả.

Đáp ứng những khuyến cáo đó, Phòng khám Cột sống - Cơ Xương Khớp cũng lấy phương châm điều trị không dùng thuốc là các phương pháp đầu tay trong điều trị bệnh cơ xương khớp, cột sống cho bệnh nhân. Bao gồm:

- Kéo giãn cột sống
- Châm cứu, điện châm
- Vật lý trị liệu

Đau mặt không điển hình1. Hội chứng lâm sàngĐau mặt không điển hình (còn được biết đến là đau dây thần kinh mặt không đi...
16/09/2026

Đau mặt không điển hình

1. Hội chứng lâm sàng
Đau mặt không điển hình (còn được biết đến là đau dây thần kinh mặt không điển hình) mô tả một nhóm các hội chứng đau không đồng nhất, trên thực tế, đau mặt không thể phân loại được như đau dây thần kinh sinh ba.
Cơn đau liên tục và có thể thay đổi cường độ. Nó hầu như xuất hiện một bên và được biểu hiện đau âm ỉ hay có cứng, chứ không phải sốc điển hình như viêm dây thần kinh sinh ba.
Phần lớn bệnh nhân là phụ nữ. Cơn đau xuất hiện tại những vùng được chi phối bởi dây thần kinh sinh ba nhưng luôn luôn chồng chéo các vùng. Đau đầu luôn xuất hiện cùng đau mặt không điển hình và không thể phân biệt với đau đầu type căng thẳng.
Đau mặt không điển hình
Căng thẳng thường làm trầm trọng thêm hoặc là yếu tố gây nên đau mặt không điển hình. Trầm cảm và rối loạn giấc ngủ cũng thường thấy ở nhiều bệnh nhân. Tiền sử chấn thương mặt, nhiễm trùng, hay khối u đầu mặt có có thể là yếu tố gây nên đau mặt ở một số bệnh nhân, nhưng với hầu hết các ca không ghi nhận được điều này.
2. Dấu hiệu và triệu chứng
Bảng so sánh đau mặt không điển hình và đau dây thần kinh sinh ba. Không giống như đau dây thần kinh sinh ba được mô tả bằng các các cơn đau dữ dội kịch phát, đau mặt không điển hình có tính ổn định, đau âm ỉ và có thể thay đổi cường độ.


Đau dây thần kinh sinh ba
Đau mặt không điển hình

Thời gian cơn đau
Thình lình, đau thành cơn
Đau kéo dài

Tính chất cơn đau
Đau viêm, đau shock
Đau âm ỉ, cứng cơ

Khoảng cách
Thường có đều
Ít có

Vùng đau
Đau vùng do dây thần kinh sinh ba chi phối
Vùng đau chồng chéo các vùng được dây sinh ba chi phối

Vùng tiên phát

Không có

Cơ sở tâm bệnh học
Hiếm khi
Thông thường

So sánh đau dây thần kinh sinh ba và đau mặt không điển hình
Đau dây thần kinh sinh ba luôn luôn đau khu trú tại một vùng do dây chi phối, trong khi đó đau mặt không điển hình các vùng đau chồng lên nhau. Trên những bệnh nhân đau mặt không điển hình không phát hiện những vùng khởi phát đau đặc trưng của đau dây thần kinh sinh ba.
3. Cận lâm sàng
Chụp X quang đầu thường có kết quả bình thường ở các bệnh nhân đau mặt không điển hình, nhưng nó có giá trị chẩn đoán khối u hoặc các xương bất thường.
Chụp cộng hưởng từ (MRI) não và xoang có thể giúp các bác sĩ lâm sàng xác định những rối loạn trong sọ như khối u, bệnh xoang, nhiễm trùng.
Nếu bệnh nhân viêm khớp hoặc viêm động mạch thái dương cần chỉ định xét nghiệm công thức máu, tốc độ máu lắng và xét nghiệm miễn dịch kháng thể kháng nhân.
Gây tê tại chỗ khớp thái dương hàm dưới là một phương pháp chẩn đoán xem có phải khớp thái dương hàng là nguyên nhân gây đau cho bệnh nhân hay không, MRI cột sống cổ cũng được chỉ định nếu bệnh nhân đang đau vùng chẩm hoặc vùng gáy.
4. Chẩn đoán phân biệt
Các hội chứng lâm sàng của đau mặt không điển hình có thể bị nhầm lẫn với đau răng hoặc đau xoang hay nhầm lẫn với đau dây thần kinh sinh ba.
Nên hỏi bệnh và kiểm tra kỹ để phân biệt những hội chứng đau chồng chéo. Khối u xương gò má và xương hàm dưới, cũng như hố sau và u sau hầu, có thể gây đau không rõ ràng được quy thành đau mắt không điển hình, và những nguy cơ gây nguy hiểm tới tính mạng phải được loại trừ ở bất kỳ bệnh nhân nào.
Loạn dưỡng phản xạ giao cảm của mặt cũng nên được chú ý ở bất kỳ bệnh nhân có dấu hiệu đau mặt không rõ ràng sau chấn thương nhiễm trùng hoặc tổn thương hệ thống thần kinh trung ương. Chú ý rằng đau mặt không điển hình đau âm ỉ, trong khi đau loạn đường phản xạ giao cảm mặt đau dữ dội, và thường có loạn cảm đau.
Phong bế hạch hình sao có thể giúp phân biệt hại hội chứng đau này; đau do loạn dưỡng phản xạ giao cảm mặt phản hồi lại khi phong bế hạch hình sao, trong khi đau mặt không điển hình thì không.
Đau mặt không điển hình phải được phân biệt với đau do trật xương hàm kết hợp với viêm động mạch thái dương
5. Điều trị đau mặt không điển hình
Cơ sở của điều trị là kết hợp thuốc với thuốc chống trầm cảm ba vòng các phương pháp vật lý như phương tiện chỉnh hình miệng, vật lý trị liệu, phong bể dây thần kinh sinh ba và tiêm gây tê tại chỗ khớp thái dương hàm bằng lượng nhỏ thuốc tê và steroid có giá trị điều trị.
Chống trầm cảm bằng nortriptyline, liều 25mg trước khi đi ngủ ban đêm, có thể hỗ trợ giảm rối loạn giấc ngủ và điều trị hội chứng đau cân có bất kì. Các phương tiện chỉnh hình giúp bệnh nhân tránh tình trạng khít chặt hàm dưới và nghiến răng, tránh làm trầm trọng thêm các triệu chứng lâm sàng. Bắt buộc quản lý trầm cảm tiềm ẩn và lo lắng.Biến chứng và những sai lầm thường gặp
Nhầm lẫn chính khi chăm sóc bệnh nhân được cho là đau mặt không điển hình là không chẩn đoán được những diễn biến bệnh lý tiềm ẩn có thể là căn nguyên cho cơn đau của bệnh nhân. Đau mặt không điển hình về bản chất là chẩn đoán loại trừ.
Phương pháp phong bế dây thần kinh sinh ba hay tiêm tê khớp thái dương hàm được cho là một phần của phác đồ điều trị, bác sĩ lâm sàng phải nhớ rằng đây là vùng có nhiều mạch máu và gần với các mạch máu lớn nên có thể dẫn tới gia tăng tỷ lệ bầm tím hoặc tụ máu sau tiêm, và bệnh nhân nên được nghe giải thích rõ về các biến chứng tiềm ẩn này.
6. Kinh nghiệm lâm sàng
Đau mặt không điển hình cần có sự đánh giá cẩn thận để xây dựng phác đồ điều trị. Nguyên nhân nhiễm trùng và viêm, bao gồm bệnh mạch máu phải được loại trừ. Stress và lo lắng thường đi kèm với đầu mặt không điển hình cũng cần được điều trị.
Đau khớp thái dương hàm là một phần của đau mặt không điển hình, điều trị tốt nhất bằng sử dụng thuốc chống trầm cảm ba vòng như Amitriptyline. Khớp cắn lệch và rối loạn giấc ngủ nên được điều trị bằng dụng cụ cắn chất liệu acrylic. Các bệnh nhân đau mặt không điển hình nên tránh thuốc giảm đau opioid và benzodiazepines.

Cùng chủ đề: 01. Các hội chứng đau vùng đầu và vùng mặt

Nguồn Dieutridau.vn

-Mặt-Thầnkinh,

Uống thuốc nam không rõ nguồn gốc trị đau khớp suốt nhiều tháng, bệnh nhân 62 tuổi bị suy gan cấp nặng nề với men gan tăng gấp 30 lần. Xem ngay cảnh báo từ bác sĩ.

Đau thần kinh trên hố (Đau đầu của người đi bơi)1. HỘI CHỨNG LÂM SÀNGĐau đầu của người đi bơi xuất hiện ngày càng nhiều ...
16/09/2026

Đau thần kinh trên hố (Đau đầu của người đi bơi)

1. HỘI CHỨNG LÂM SÀNG
Đau đầu của người đi bơi xuất hiện ngày càng nhiều cũng với sự gia tăng số lượng người tham gia vào bơi lội như là một phần trong rèn luyện thể chất. Mặc dù mỗi cá nhân bị đau đầu khi bơi thường phàn nàn về triệu chứng đau nửa đầu phía trước, cơn đau xảy ra ngắn ngay sau khi họ bắt đầu bơi. Chứng đau này được mô tả một cách chính xác hơn giống như đau do chèn ép dây thần kinh. Kính bơi có thể quá rộng hoặc quá chật, gây ép lên dây thần kinh trên hố tại vị trí ở lỗ trên ổ mắt và đó là nguyên nhân gây nên đau đầu khi bơi.
Khởi phát các triệu chứng thường âm thầm ở hầu hết các bệnh nhân và thường xuất hiện sau khi họ đã bơi trong một khoảng thời gian, và điều này có thể do dây thần kinh trên hố bị chèn ép kéo dài. Một số báo cáo về khởi phát cấp tính của đau đầu khi bơi có tiền sử chung ở bệnh nhân là thường thắt chặt kính bơi một bên đột ngột sau khi thấy rò nước vào kính trong khi bơi.

Thần kinh trên hố (Nhánh của thần kinh V1)

Trong phần lớn các trường hợp, triệu chứng đau đầu giảm ngay khi dừng đeo kính bơi. Tuy nhiên, trong vài trường hợp có sự chèn. ép dây thần kinh trên hố mãn tính thì tổn thương dây thần kinh có thể trở thành vĩnh viễn.
2. DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG
Đau đầu ở người đi bơi thường ở một bên và có liên quan đến vùng da trán và da đầu được dây thần kinh trên hố chi phối. Loại đau này biểu hiện bằng tăng cảm giác da trên dây thần kinh trên hố và lan theo vùng trán, da đầu bên bệnh, nặng hơn là dị cảm và loạn cảm, và bệnh nhân thường phàn nàn là tóc của họ bị “đau”.
Với sự chèn ép kéo dài lên dây thần kinh trên hố, có thể có hiện tượng “gỗ hóa” hay mất cảm giác vùng trên ổ mắt và vùng trán. Khám lâm sàng có thể phát hiện thấy đau ở vùng da theo chi phối của dây thần kinh trên hố bị chèn ép, thậm chí là mất cảm giác. Ở một số bệnh nhân đôi khi có thể xuất hiện phù mí mắt, nguyên nhân do chèn ép mô mềm khi đeo kính bơi quá chật.
Ít gặp hơn, có thể có ban xuất huyết, xuất hiện thứ phát do tổn thương những mạch máu yếu trong mô mềm, lỏng lẻo ở mí mắt.

Chi phối cảm giác thần kinh trên hốc mắt

3. CẬN LÂM SÀNG
Không có cận lâm sàng đặc hiệu cho đau đầu ở người đi bơi. Cận lâm sàng chỉ nhằm mục đích phát hiện bệnh lý tiềm ẩn hoặc để phân biệt với những bệnh khác biểu hiện giống đau đầu khi bơi (xem phần “Chẩn đoán phân biệt”).
Tất cả bệnh nhân có khởi phát đau đầu gần đây đều nên chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não, hoặc cân nhắc chụp cắt lớp vi tính (CT) xoang, chú ý đặc biệt đến xoang trán, để phân biệt với những trường hợp viêm xoang cũng hay gặp người đi bơi.
Các xét nghiệm như công thức máu toàn phần, tốc độ mâu lắng, sinh hóa máu có thể được chỉ định nếu chẩn đoán đau đầu ở người đi bơi còn nhiều nghi vấn.
4. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Đau đầu ở người đi bơi thường được chẩn đoán dựa trên lâm sàng thông qua tiền sử đau đầu.
4.1. Đau đầu migraine
Mặc dù có sự khác biệt rõ nhưng đau đầu ở người đi bơi hay bị chẩn đoán nhầm với đau đầu migraine. Chẩn đoán sai dẫn đến kế hoạch điều trị không hợp lý và kiểm soát không tốt các triệu chứng đau đầu. Bảng so sánh giúp phân biệt đau đầu ở người đi bơi với đau đầu migraine và giúp chẩn đoán đúng bệnh ngay trên lâm sàng.


Đau đầu ở người đi bơi
Đau nửa đầu Migraine

Khởi phát
Vài phút
Vài phút đến vài giờ

Tần suất
Khi bơi
Ít khi > 1 lần/tuần

Vị trí
Vùng da thần kinh chi phối: da đầu và trán
Thái dương

Đặc điểm
Tăng nhạy cảm da, có thể có dị cảm hoặc tê bì
Giật

Thuận bên
Thường đau 1 bên đầu
Luôn đau 1 bên đầu

Tiền triệu (aura)
Không có
Có thể có

Buồn nôn, nôn
Ít khi
Thường xuyên

Thời gian kéo dài
Thường kết thúc ngay khi bỏ kính bơi, nhưng đôi khi là mãn tính
Thường < 24 giờ

Phân biệt đau đầu khi bơi và đau nửa đầu Migraine
4.2. Bệnh lý hàm mặt, xoang, nội sọ
Như đã được nhắc đến ở phần trên, viêm xoang trán có thể có biểu hiện giống như đau đầu ở người đi bơi, chẩn đoán phân biệt dựa vào kết quả MRI và CT.
Ít gặp hơn, viêm động mạch thái dương có thể nhầm lẫn, mặc dù viêm động mạch thái dương có biểu hiện toàn thân.
Các bệnh lí nội sọ có thể chẩn đoán nhầm với đau đầu ở người đi bơi.
5. ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN KINH TRÊN HỐ
5.1. Thay đổi kính bơi
Điều trị chính của đau đầu ở người bơi đó là thay đổi kính bơi. Đơn giản là mua kính bơi khác có vòng cao su mềm hơn. Trong một số trường hợp, các kính bơi quen thuộc có thể không chèn ép vào dây thần kinh trên hố, nhưng cần đủ rộng để tránh chèn ép vào nhãn cầu.
5.2. Thuốc giảm đau
Các thuốc giảm đau thông thường hoặc thuốc chống viêm không steroid có thể giúp giảm bớt triệu chứng. Tuy nhiên, các thuốc này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu lạm dụng chúng.
5.3. Nhóm thuốc chống động kinh
Nếu các triệu chứng vẫn còn dai dẳng sau khi đã dùng không đeo kính bơi, gabapentin có thể được chỉ định. Các xét nghiệm máu cơ bản cần được làm trước khi bắt đầu liệu trình với 300mg gabapentin trước khi đi ngủ trong 2 đêm.
Bệnh nhân cần được cảnh báo trước về một số tác dụng phụ, bao gồm chóng mặt, lú lẫn và có thể có phát ban. Sau đó, liều thuốc có thể tăng 300mg mỗi lần trên 2 ngày, tổng liều có thể lên tới 2400mg/ngày, nếu các tác dụng phụ mức độ cho phép.
Ở thời điểm này, nếu bệnh nhân đã giảm đau, cần xét nghiệm lại các thông số máu, và có thể điều chỉnh liều thuốc tăng dần bằng cách dùng viên 100mg. Ít khi gặp trường hợp phải dùng đến 3600mg/ngày.
5.4. Nhóm chống trầm cảm 3 vòng
Nếu có các biểu hiện rối loạn giấc ngủ, amitryptilin có thể được cho trước khi đi ngủ với liều khởi đầu 25mg và có thể điều chỉnh tăng dần nếu các tác dụng phụ ở mức độ cho phép.
5.5. Phong bế dây thần kinh
Ở một số ít những bệnh nhân mà các triệu chứng còn tồn tại dai dẳng, phong bế dây thần kinh trên hồ bằng thuốc tê và steroid là bước cần thiết tiếp theo. Để phong bế dây thần kinh trên hố, bệnh nhân được đặt nằm ngửa trên bàn, đầu ở vị trí trung gian.
Da được sát khuẩn bằng dung dịch povidone – iodine, tránh để dung dịch sát khuẩn rơi vào mắt Sờ xác định khuyết trên hố mắt.
Kim dài 1,5 inch, cỡ 25 được khuyên dùng đặt kim vuông góc với mặt da tương ứng với khuyết trên ố mắt. Sau đó, tiêm khoảng 3-4ml thuốc tê và 40mg methyprednisolon theo hình nan quạt ở các nhánh thần kinh trên hố.
Để phong bế dây thần kinh trên hố, kim hướng vào trong từ khuyết trên ổ mắt đưa hướng về đỉnh mũi. Đôi khi có thể xuất hiện dị cảm khi tiêm.
6. BIẾN CHỨNG VÀ NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG GẶP
Trong phần lớn các trường hợp, đau đầu ở người đi bơi là cơn đau mà xảy ra trong những điều kiện hạn chế, có thể điều trị dễ dàng nếu được chẩn đoán. Thất bại trong việc bỏ kính bơi khi cần có thể dẫn đến đau đầu kéo dài với các biểu hiện dị cảm hoặc tê bì.
Không nhận ra các triệu chứng của bệnh trong nội sọ hoặc bệnh toàn thân như u não hoặc viêm động mạch thái dương có thể gây ra những hậu quả nặng nề.
7. KINH NGHIỆM LÂM SÀNG
Mặc dù đau đầu ở người đi bơi thường xảy ra với những người thường xuyên bơi lội, nhưng nó lại thường bị chẩn đoán nhầm với đau đầu do viêm xoang, hoặc đôi khi là đau đầu migraine.
Bằng cách hỏi tiền sử đau đầu và khám lâm sàng, bác sĩ có thể đưa ra chẩn đoán với độ chính xác cao. Để tránh nguy cơ phụ thuộc nhiều vào thuốc, cần sử dụng đồng thời liệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc, kết quả là tác dụng hiệp đồng và kéo dài
-Mặt-Thầnkinh,

Uống thuốc nam không rõ nguồn gốc trị đau khớp suốt nhiều tháng, bệnh nhân 62 tuổi bị suy gan cấp nặng nề với men gan tăng gấp 30 lần. Xem ngay cảnh báo từ bác sĩ.

Hội chứng đau đầu hồi ứng1. HỘI CHỨNG LÂM SÀNGĐau đầu hội chứng là hội chứng đau đầu mới được xác định gần đây, xảy ra ở...
16/09/2026

Hội chứng đau đầu hồi ứng

1. HỘI CHỨNG LÂM SÀNG
Đau đầu hội chứng là hội chứng đau đầu mới được xác định gần đây, xảy ra ở những bệnh nhân lạm dụng thuốc điều trị các cơn đau đầu của họ. Việc lạm dụng thuốc này dẫn tới đau đầu ngày càng thường xuyên hơn và không đáp ứng với cả thuốc điều trị cắt cơn và điều trị dự phòng.
Trong giai đoạn vài tuần, các cơn đau của bệnh nhân đau đầu migraine hoặc đau đầu type căng thăng trở nên thường xuyên hơn và biến thành các cơn đau đầu mạn tính hàng ngày. Cơn đau đầu mỗi ngày này càng ngày càng không đáp ứng với các thuốc giảm đau và những loại thuốc khác. Bệnh nhân tự nhận thấy các triệu chứng đau trầm trọng hơn nếu các thuốc giảm đau điều trị cắt cơm hay dự phòng bị quên hoặc dùng chậm trễ.
Đau đầu hồi trong có thể được chẩn đoán bởi các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và tần suất đau của nó càng ngày càng tăng do sự lạm dụng các thuốc đau đầu không cần kê đơn có chứa cafein.
Đau nửa đầu migraine
2. DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG
Trên lâm sàng đau đầu hồi ứng biểu hiện như một thể biến đổi của đau đầu migraine hay đau đầu do căng thẳng, và có thể biểu hiện các đặc điểm của cả hai loại đau đầu phổ biến này, do đó làm mờ đi các đặc tính riêng biệt của nó khiến chẩn đoán gặp khó khăn. Đặc điểm chung của đau đầu hồi ứng là việc lạm dụng thuốc quá mức:
Giống với chứng đau đầu Migraine và đau đầu type căng thẳng thăm khám lâm sàng thường trong giới hạn bình thường
3. CẬN LÂM SÀNG
Hiện không có cận lâm sàng đặc hiệu nào cho chứng đau đầu hồi ứng. Cận lâm sàng chủ yếu nhằm xác định quá trình bệnh lí ẩn hoặc các bệnh khác có thể giống với đau đầu do căng thẳng hay đau đầu migraine (Xem “Chẩn đoán phân biệt”).
Tất cả các bệnh nhân mới khởi phát đau đầu mạn tính hàng ngày gần đây nghi ngờ là chứng đau đầu hồi ứng cần tiến hành chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não và nếu có những triệu chứng rõ rệt ở chẩm hay gáy thì chụp cả cột sống cổ.
MRI cũng được thực hiện ở những bệnh nhân có đau đầu đo căng thẳng hay đau đầu migraine đã ổn định trước đó nhưng gần đây lại có biến đổi trong các triệu chứng đau đầu.
Các xét nghiệm sàng lọc trong phòng thí nghiệm, bao găm tổng phân tích tế bào máu tốc độ máu lắng và sinh hóa máu tự động được thực hiện nếu chẩn đoán đau đầu hồi ứng còn nhiều nghi vấn.
4. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Đau đầu hồi ứng thường được chẩn đoán trên cơ sở làm hàng thông qua hồi tiền sử đau đầu. Bởi đau đầu hồi ứng cho nhiều đặc điểm tương tự với các loại đau đầu cơ bản khác, chẩn đoán có thể bị nhầm lẫn nếu không hỏi kĩ tiền sử dụng thuốc, bao gồm các câu hỏi cụ thể về sử dụng các thuốc đau đầu và thuốc giảm đau không kê toa.
Bất kỳ sự thay đổi nào trong cơn đau đầu ổn định trước đó cần xem xét kĩ lưỡng và không nên tự động, gắn việc lạm dụng thuốc giảm đau khi không cố sự đánh giá lại bệnh nhân cần thận.
5. ĐIỀU TRỊ ĐAU ĐẦU HỒI ỨNG
Phương pháp điều trị đau đầu hồi ứng bao gồm ngưng việc làm dụng hay sử dụng sai thuốc và hoàn toàn kiêng thuốc trong ít nhất ba tháng. Nhiều bệnh nhân không thể chịu đựng được khi ngừng thuốc lúc điều trị ngoại trú và cuối cùng phải yêu cầu nhập viện ở khoa chuyên điều trị đau đầu.
Nếu cân nhắc điều trị ngoại trú cho bệnh nhân, cần lưu lý giải thích rõ:

Những cơn đau đầu và triệu chứng kèm theo sẽ trở nên tồi tệ hơn trước khi trở nên tốt hơn.
Bất kì sử dụng một lượng thuốc chống chỉ định nào dù nhỏ đến đâu cũng dẫn tới tiếp tục chứng đau đầu hồi ứng
Bệnh nhân không thể tự chữa bệnh bằng thuốc đau đầu bán tự do trên thị trường
Việc quá lạm dụng thuốc giảm đau nhóm opioid hay thuốc đau đầu kết hợp chứa butalbital hay nhóm ergotamine có thể dẫn tới sự lệ thuộc vật lý và nếu ngưng thuốc cần có sự giám sát của nhà chuyên gia có kinh nghiệm trong điều trị sự lệ thuộc của cơ thể.
Nếu bệnh nhân làm theo yêu cầu của bác sĩ về việc ngưng sử dụng thuốc thì đau đầu có thể được cải thiện.

6. KINH NGHIỆM LÂM SÀNG
Chứng đau đầu hồi ứng xảy ra ngày càng phổ biến hơn trước đây. Sự xuất hiện của đau đầu hồi ứng là kết quả trực tiếp của việc kê quá liều thuốc cắt cơn đau đầu cho những bệnh nhân không thích hợp. Khi chưa chắc chắn các bác sĩ nên tránh kế thuốc cắt cơn đau đầu và điều trị hầu hết bệnh nhân đau đầu theo cách dự phòng.

Cùng chủ đề: 01. Các hội chứng đau vùng đầu và vùng mặt

Nguồn Dieutridau.vn

-Mặt-Thầnkinh,

Uống thuốc nam không rõ nguồn gốc trị đau khớp suốt nhiều tháng, bệnh nhân 62 tuổi bị suy gan cấp nặng nề với men gan tăng gấp 30 lần. Xem ngay cảnh báo từ bác sĩ.

Đau thần kinh chẩm (đau sau đầu)1. HỘI CHỨNG LÂM SÀNGĐau thần kinh chẩm thường là kết quả của các chấn thương đụng dập v...
16/09/2026

Đau thần kinh chẩm (đau sau đầu)

1. HỘI CHỨNG LÂM SÀNG
Đau thần kinh chẩm thường là kết quả của các chấn thương đụng dập vào dây thần kinh chấm lớn và chấm bé.

Thần kinh chẩm lớn xuất phát từ các sợi của nhánh lưng tách ra từ dây thần kinh cổ 2. Dây thần kinh chẩm lớn đi xuyên qua cân ngay dưới đường gây trên và đi cùng với động mạch chẩm. Nó chi phối cho phần trong của da đầu phía sau và vùng đỉnh ở phía trước
Dây thần kinh chẩm bể xuất phát từ các nhánh trước của dây thần kinh có 2 và 3. Thần kinh chẩm bé đi lên trên dọc bờ sau của cơ ức đòn chũm và chia các nhánh chi phối cho phần ngoài của da đầu phía sau và mặt sọ của loa tai.

Đau thần kinh chẩm (đau sau đầu)

Ít phổ biến hơn, các vi chấn thương lặp đi lặp lại do ngửa cổ quá tức (ví dụ như sơn trần nhà) hoặc ngồi trước màn hình máy tính. Trong một thời gian dài mà tập trung và lợi và một điểm quá cao do đó cũng gây duỗi cột sống cổ, dẫn đến đau thần kinh chẩm.
Đau thần kinh chẩm đặc trưng bởi đau dai dẳng vùng nền sọ và trong một số trường hợp có thể đột ngột dị cảm như điện giật vùng dây thần kinh chẩn lớn và chấm bé chi phối. Đau đầu type căng thẳng – một chứng đau đầu phổ biến hơn, trong một số trường hợp cũng có các biểu hiện gần giống với đau dây thần kinh chẩm.
2. DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG
Bệnh nhân bị đau thần kinh chẩm có biểu hiện đau thần kinh ở vùng chi phối của thần kinh chẩm lớn và chẩm bé khi sờ vào chung vị trí ngang mức ụ chẩm. Một số bệnh nhân có thể biểu lộ cơn đau khi xoay hoặc nghiêng cổ sang hai bên.
Xem thêm: Đau trong bệnh lý thần kinh
3. CẬN LÂM SÀNG
Không có cận lâm sàng đặc hiệu cho đau thần kinh chẩm. Cận lâm sàng chỉ nhằm mục đích xác định những bệnh lý tiềm ẩn hoặc trong bệnh lý có biểu hiện tượng tự như đau thần kinh chẩm (Xem phần “chẩn đoán phân biệt”).
3.1. Chụp MRI
Mọi bệnh nhân có khởi phát đau đầu gần đây mà nghĩ đến đau thần kinh chầm cần chụp MRI sọ não và MRI cột sống cổ. MRI cần được chỉ định ở những bệnh nhân có biểu hiện đau thần kinh chẩm trước đó đã ổn định và triệu chứng đau gần đây có thay đổi.
3.2. Chụp CT
CT sọ não và CT cột sống cổ có thể hữu ích trong việc phát hiện các bệnh lí nội sọ mà có biểu hiện giống như đau thần kinh chẩm.
3.3. Xét nghiệm máu
Các xét nghiệm máu như công thức máu, tốc độ máu lắng, sinh hóa máu có thể được chỉ định trong trường hợp chẩn đoán đau thần kinh chẩm còn nhiều nghi vấn.
3.4. Phong bế thần kinh chẩm
Phong bế thần kinh chẩm lớn và chẩm bé có thể giúp chẩn đoán xác định và phân biệt giữa đau thần kinh chẩm với đau đầu type căng thẳng. Thần kinh chẩm lớn và chẩm bé có thể dễ dàng phong bế được ở ụ chẩm.
4. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Đau thần kinh chẩm là nguyên nhân ít gặp trong đau đầu và ít khi xảy ra nếu không có sang chấn vào thần kinh chẩm lớn và chấm bé.
Hay gặp hơn, bệnh nhân có những cơn đau đầu vùng chẩm thường là đau đầu type căng thẳng. Đau đầu type căng thẳng không đáp ứng với phong bế thần kinh chẩm, nhưng lại đáp ứng với những thuốc chống trầm cảm như amitryptilin, cùng gây tê ngoài màng cứng vùng cổ.
Vì vậy, các nhà lâm sàng có thể cần cân nhắc lại chẩn đoán đau thần kinh chẩm với những bệnh nhân có triệu chứng đau đầu phù hợp với đau thần kinh chẩm nhưng lại không đáp ứng với phong bế thần kinh chẩm lớn và chẩm bé.
5. ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN KINH CHẨM
Điều trị đau thần kinh chẩm cơ bản dựa trên phong bế thần kinh chẩm bằng thuốc tê và steroid, kết hợp với các thuốc giảm đau chống viêm không steroid, giãn cơ, thuốc chống trầm cảm ba vòng.
5.1. Vật lý trị liệu – đông y
Một số trường hợp đau thần kinh chẩm do tư thế làm việc, đặc biệt là do bệnh lý văn phòng. Những kỹ thuật vật lý trị liệu đơn thuần làm mềm cơ, và giải phóng nhóm cơ vùng chẩm, giúp bệnh nhân kiểm soát đau hiệu quả
5.2. Cách thức phong bế thần kinh chẩm

phong bế thần kinh chẩm

5.2.1. Tư thế bệnh nhân:
Để phong bế dây thần kinh chẩm lớn và chẩm bé, bệnh nhân được đặt trong tư thế ngồi cúi đầu và trán dựa vào bàn cạnh giường.
5.2.2. Thuốc sử dụng
Khoảng 8ml thuốc tê được lấy vào xi lanh 12ml. Để điều trị đau thần kinh chẩm hoặc trong các tình trạng đau khác liên quan đến thần kinh chẩm lớn và chẩm bé, sử dụng khoảng 80mg methylprednisolon pha cùng thuốc tê trong lần phong bế đầu tiên, sau đó 40mg trong lần sau.
5.2.3. Cách thức thực hiện
Động mạch chẩm được bắt ngang mức đường chẩm trên. Sau khi da đầu đã được sát trùng sử dụng kim 1,5 inch cỡ 22 đâm phía trong so với động mạch và đưa vuông góc cho đến khi đầu kim chạm vào màng xương . Có thể xuất hiện dị cảm, và bệnh nhân nên được báo trước về dấu hiệu này.
Sau đó, định hướng lại kim lên trên, hút nhẹ nếu không có máu thì tiêm 5ml dung dịch thuốc theo hình nan quạt, chú ý cẩn thận không đâm vào lỗ chẩm lớn nằm ở giữa. Thần kinh chẩm bé và một vài nhánh nông của thần kinh chẩm lớn được phong bế bằng cách hướng kim sang bên và hơi xuống dưới. Sau khi hút nhẹ không có máu, tiếp tục tiêm 3-4ml dung dịch thuốc.
Trong trường hợp bệnh nhân bị đau lại sau khi đã giảm đau nhờ tiêm phòng bếp bước tiếp theo có thể gây tổn thương thần kinh bằng sóng cao tần. Ở những bệnh nhân bị đau thần kinh chẩm mà không đáp ứng với các phương pháp điều trị trên, cần xem xét phương pháp kích thích thần kinh chẩm.
6. BIẾN CHỨNG VÀ NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG GẶP
Vùng da đầu rất giàu mạch máu. Các mạch máu này lại nằm gần cả hai dây thần kinh chẩm lớn và chẩm bé. Điều đó có nghĩa là, nhà lâm sàng cần rất cẩn thận tính toán tổng liều thuốc tê cần thiết mà vẫn trong ngưỡng an toàn, đặc biệt trong trường hợp phong bế thần kinh ở cả hai bên.
Sự dày đặc của mạch máu thần kinh sẽ làm tăng nguy cơ hình thành bầm máu hay khối máu tụ sau phong bể. Các biến chứng này có thể giảm thiểu nếu ép vào vùng tiềm ngay sau khi tiêm. Chườm lạnh trong vòng 20 phút sau khi tiêm phong bể sẽ làm giảm đau và nguy cơ chảy máu.
Cần chú ý không đâm kim vào vùng lỗ châm lớn, bởi tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện ở vùng này sẽ ngay lập tức gây tê cả tủy sống. Giống như các hội chứng đau đầu khác, nhà lâm sàng cần chắc chắn chẩn đoán là chính xác và bệnh nhân không có các bệnh lý nội sọ hay bệnh lý cột sống cổ mà có thể nhầm lẫn với đau thần kinh chắn.
7. KINH NGHIỆM LÂM SÀNG
Lý do chủ yếu mà phong bế thần kinh chẩm không làm giảm triệu chứng đau đầu đó là bệnh nhân không được chẩn đoán đúng. Bất kì bệnh nhân nào có cơn đau đầu nghiêm trọng đến mức cần phải phong bế thần kinh thì đều cần tiến hành chụp MRI để phát hiện các bệnh lý nội sọ tiềm ẩn.
Thêm vào đó, chụp X – quang cột sống cổ cần được chỉ định để phát hiện các bất thường như dị dạng Arnold – Chiari có thể là nguyên nhân tiềm ẩn gây đau đầu vùng chẩm.

Cùng chủ đề: 01. Các hội chứng đau vùng đầu và vùng mặt

Nguồn Dieutridau.vn

-Mặt-Thầnkinh,

Uống thuốc nam không rõ nguồn gốc trị đau khớp suốt nhiều tháng, bệnh nhân 62 tuổi bị suy gan cấp nặng nề với men gan tăng gấp 30 lần. Xem ngay cảnh báo từ bác sĩ.

Xuất huyết dưới nhện: cơn đau đầu tồi tệ nhất1. Hội chứng lâm sàngXuất huyết dưới nhện (SAH) là một trong những thể tai ...
16/09/2026

Xuất huyết dưới nhện: cơn đau đầu tồi tệ nhất

1. Hội chứng lâm sàng
Xuất huyết dưới nhện (SAH) là một trong những thể tai biến mạch máu não hủy hoại thần kinh nặng nhất trên lâm sàng. Ít hơn 60% bệnh nhân mắc chứng bệnh này sẽ hồi phục về mặt nhận thức và chức năng như trước khi bị bệnh. Khoảng 65% đến 70% các trường hợp xuất huyết dưới nhện có nguyên nhân là vỡ phình động mạch não. Còn lại là do dị dạng thông động tĩnh mạch não, khối u hay u mạch.

Cơn đau đầu liên quan đến xuất huyết dưới nhện được mô tả là cơn đau tồi tệ nhất mà bệnh nhân mắc phải.

Phình động mạch não dễ bị vỡ bởi chúng có lớp cơ thành mạch và lớp collagen đàn hồi kém phát triển. Các bệnh hệ thống cũng liên quan đến tăng tỉ lệ có phinh động mạch não, bao gồm

hội chứng Marfan,
hội chứng Ehlers – Danlos,
bệnh hồng cầu hình liềm
hẹp động mạch chủ
thận đa nang
thiểu sản xơ cơ
giả u vàng sợi chun (Pseudoxanthoma elasticum).

Cao huyết áp, sử dụng rượu và chất chứa co**in, xơ vữa động mạch não làm tăng nguy cơ bị SAH.
Người da đen có khả năng bị SAH cao gấp đôi người da trắng.
Phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn đàn ông. Độ tuổi trung bình của người bị SAH là khoảng 50 tuổi. Ngay cả với điều trị hiện đại như bây giờ, tỷ lệ tử vong của SAH vẫn ở khoảng 25%.
2. Dấu hiệu và triệu chứng
Xuất huyết dưới nhện lớn thường được báo trước bởi cơn đau đầu cảnh giới (sentinel headache). Cơn đau đầu này được cho là kết quả của việc phình động mạch não đang chuẩn bị vỡ. Cơn đau đầu cảnh giới này có khởi phát đột ngột và nhanh chóng đạt đỉnh điểm. Nó có thể đi kèm với chứng sợ ánh sáng, buồn nôn và ói mửa.
90% bệnh nhân bị xuất huyết dưới nhện sẽ trải qua cơn đau đầu cảnh giới trong vòng 3 tháng trong trường hợp xuất huyết dưới nhện nghiêm trọng. Bệnh nhân xuất huyết dưới nhện lớn trải qua cơn khởi phát đau đầu dữ dội như thể không tài nào chịu đựng nổi.
Cơn đau đầu này thường kèm theo triệu chứng

buồn nôn, nôn,
chóng mặt sợ ánh sáng,
lơ mơ, lú lẫn,
cứng gáy,
đau cổ và lưng.

Các bệnh nhân bị xuất huyết dưới nhện nghiêm trọng thường bệnh cấp và lên tới 50% mất ý thức khi áp lực nội sọ tăng nhanh cùng xuất huyết không suy giảm.
Liệt dây thần kinh sọ, đặc biệt là dây thần kinh vận nhãn ngoài (dây thần kinh số VI) cũng có thể xảy ra do tăng áp lực nội sọ. Dấu hiệu thần kinh khu trú như liệt, động kinh, xuất huyết võng mạc, và phù g*i thị thường thấy khi khám lâm sàng.
3. Cận lâm sàng
Cận lâm sàng ở những bệnh nhân nghi ngờ bị SAH nhằm hai mục đích:

để xác định quá trình bệnh lý nội sọ tiềm ẩn hoặc các bệnh lý khác có biểu hiện tương tự SAH mà có thể điều trị dễ hơn (xem “Chẩn đoán phân biệt”)
để xác định chính xác xuất huyết dưới nhện.

3.1. Chụp CT sọ não
Tất cả bệnh nhân gần đây có khởi phát đau đầu dữ dội mà nghi là thứ phát do SAH cần chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não cấp cứu. CT đa dãy đầu dò sẽ đưa ra chấn đoán SAH chính xác lên tới 100% nếu chụp CT mạch máu não là một phần của quy trình chụp cơ bản. Chụp động mạch não cũng được thực hiện khi xét đến can thiệp phẫu thuật và vị trí chảy máu không được xác định chính xác.
3.2. Chụp MRI và MRA sọ não
Chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não và chụp mạch cộng hưởng từ(MRA) sẽ có ích khi không phát hiện thấy phình động mạch não trên hình chụp CT và sẽ chính xác hơn trong chẩn đoán dị dạng thông động tĩnh mạch.
3.3. Xét nghiệm máu
Các xét nghiệm, bao gồm tốc độ máu lắng, tổng phân tích tế bào máu, đông máu cơ bản và sinh hóa máu tự động cần được thực hiện ở những bệnh nhân bị SAH.
Phân loại nhóm máu và phản ứng chéo nên được xem xét thực hiện ở bất cứ bệnh nhân nào dự tính sẽ phẫu thuật hoặc có tiền sử thiếu máu.
3.4. Xét nghiệm khác
Việc kiểm tra thị lực cần được thực hiện ở tất cả các bệnh nhân bị SAH để xác định quá trình phủ g*i thị.
Chọc dò tủy sống sẽ có tác dụng trong việc phát hiện máu có trong dịch não tủy, nhưng nó có thể bị hạn chế bởi sự tăng áp lực nội sọ sẽ khiển chọc dò tủy sống trở nên nguy hiểm.
Bất thường trên điện tâm đồ thường thấy ở các bệnh nhân bị SAH và được cho là do mức catecholamine lưu hành cao bất thường và rối loạn chức năng vùng dưới đồi.
4. Chẩn đoán phân biệt
Đối với hầu hết các trường hợp, chấn đoán phân biệt SAH được cho là chẩn đoán nhẹ hơn trong hai căn bệnh nguy hiểm bởi hầu như toàn bộ các bệnh dễ lẫn với SAH đều có tỷ lệ tử vong và bệnh tật cao. Nổi bật trong số đó là đột quỵ, bệnh mạch máu collagen, nhiễm trùng, cơn tăng huyết áp kịch phát, rò dịch não tủy, và nhiều nguyên nhân lành tính gây đau đầu khác.
Bảng liệt kê các bệnh dễ nhầm lẫn với SAH

Nhiễm trùng

Viêm màng não
Viêm não
Áp xe
Kí sinh trùng

Cơn tăng huyết áp kịch phát

Mất dịch não tủy

Đau đầu sau chọc dò màng cứng
Dò dịch não tủy tự phát

Bệnh mạch máu collagen

Bệnh Lupus cerebritis
Viêm mạch máu
Viêm đa cơ

5. Điều trị xuất huyết dưới nhện
5.1. Điều Trị Nội Khoa
Việc điều trị SAH bắt đầu bằng điều trị cấp tính nội khoa, để giảm thiểu các di chứng của cả nhồi máu não và bệnh tật nghiêm trọng khác có liên quan. Nằm nghỉ ngơi, đầu giường nâng lên 30-35 độ để tạo thuận lợi máu tĩnh mạch được dẫn lưu là bước đầu trong điều trị bệnh nhân SAH.
Việc xác định chính xác lượng dịch truyền vào và thải ra, cũng như chú ý sự tăng, hạ huyết áp cũng rất cần thiết trong điều trị ban đầu SAH và theo dõi tim mạch bằng phương pháp xâm lấn cũng nên áp dụng sớm trong khi điều trị.
Theo dõi nồng độ oxy và carbondioxide cuối thì thở ra nên được thực hiện sớm trong điều trị để xác định chứng suy hô hấp. Tránh lạm dụng thuốc giảm đau nhóm opioid và thuốc an thần để ngăn chặn tình trạng giảm thông khí khiến tăng áp lực nội sọ và thiếu máu não cục bộ.
Điều trị tích cực chống co giật cũng được yêu cầu thực hiện. Kiểm soát nên để tránh tăng áp lực nội sọ liên quan đến nghiêm pháp Vasava. Nên xem xét phòng ngừa xuất huyết tiêu hóa, đặc biệt là nếu sử dụng nhóm thuốc steroid để điều trị tăng áp lực nội SỌ, và sử dụng các thiết bị nên khi để tránh viêm tắc tĩnh mạch cũng đáng để cân nhắc.
Nếu rối loạn ý thức, cần đặt nội khí quản tránh tăng áp lực nội sọ và tăng thông khí để giảm nồng độ carbondioxide.
Điều trị tăng áp lực nội sọ bằng dexamethasone, dung dịch tìm thấu mannitol và furosemide. Thuốc chẹn kênh calci và magic hữu ích trong giảm co thắt mạch máu não và giảm vùng thiếu máu cục bộ. Các nghiên cứu cho thấy statin cũng có lợi ích này. Nhà thuốc antifibrinolytic như axit epsilon – aminocaproặc có thể là giảm tỷ lệ tái xuất huyết ở những bệnh nhân được điều trị.
5.2. Điều trị ngoại khoa
Điều trị ngoại khoa não úng thủy với dẫn lưu não thất có thể thực hiện để điều trị áp lực nội sọ tăng quá cao với cảnh báo trước là giảm áp lực nội sọ quá nhanh sẽ có thể dẫn đến tỷ lệ tái xuất huyết tăng. Phẫu thuật kẹp clip phình động mạch hay can thiệp nút nội mạch bằng coil cho xuất huyết tiếp diễn hay tái xuất huyết có tỷ lệ tử vong và tàn phế cao, nhưng lại cần thiết nếu phương pháp điều trị bảo tồn thất bại.
6. Biến chứng và những sai lầm thường gặp
Các loại biến chứng và những nhầm lẫn trong chẩn đoán và điều trị SAH thường phân làm ba loại.

Loại đầu tiên bao gồm sai sót không nhận ra tiền triệu của xuất huyết dưới nhện để đánh giá và điều trị bệnh nhân trước khi SAH nặng hơn xuất hiện.
Loại thứ hai gồm chẩn đoán sai dẫn tới chậm trễ trong điều trị và cuối cùng,
-Mặt-Thầnkinh,

Uống thuốc nam không rõ nguồn gốc trị đau khớp suốt nhiều tháng, bệnh nhân 62 tuổi bị suy gan cấp nặng nề với men gan tăng gấp 30 lần. Xem ngay cảnh báo từ bác sĩ.

Address

G11, Winmart Võ Chí Công, Xuân La, Tây Hồ
Hanoi
100000

Opening Hours

Monday 07:00 - 18:00
Tuesday 07:00 - 18:00
Wednesday 07:00 - 18:00
Thursday 07:00 - 18:00
Friday 07:00 - 18:00
Saturday 07:00 - 18:00
Sunday 07:00 - 18:00

Telephone

+84843548686

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phòng khám Cột sống - Cơ Xương Khớp posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Phòng khám Cột sống - Cơ Xương Khớp:

Shortcuts

Share