Phòng chống Ung thư Phổi

Phòng chống Ung thư Phổi Theo GLOBOCAN 2012, ung thư phổi ở Việt Nam đứng thứ hai, chỉ sau ung thư gan. Phát hiện sớm giúp tăng cơ hội kiểm soát bệnh và sống.
(1)

Con số này nhắc chúng ta cảnh giác: ho kéo dài, khó thở, đau ngực, sụt cân… hãy đi khám sớm.

MŨI TÊN ĐỎ ĐANG CHỈ VÀO ĐÂU?Ca này nhìn qua tưởng dễ, nhưng đọc phần bình luận sẽ thấy mỗi người gọi một tên: nang hoạt ...
02/09/2026

MŨI TÊN ĐỎ ĐANG CHỈ VÀO ĐÂU?

Ca này nhìn qua tưởng dễ, nhưng đọc phần bình luận sẽ thấy mỗi người gọi một tên: nang hoạt dịch, máu tụ, rò dịch não tủy, thậm chí thoát vị đĩa đệm. Một vùng sáng mà gánh gần hết bệnh học cột sống.

Bệnh nhân 50 tuổi, vừa phẫu thuật thoát vị đĩa đệm thắt lưng ngày 16/08/2026. Sau mổ xuất hiện bàn chân rũ bên trái và không thể đi lại. Trên lát cắt sagittal T2, phía sau túi màng cứng tại vùng L4–L5 có một ổ dịch, đúng vị trí mũi tên đỏ.

Theo các bạn, đây nhiều khả năng là gì? Dấu hiệu nào khiến các bạn chọn chẩn đoán đó? Cần xem thêm lát cắt ngang, T1 hay chuỗi sau tiêm?

Cá nhân tôi nghiêng nhiều về giả thoát vị màng tủy sau mổ do rò dịch não tủy. Lý do là ổ dịch nằm ngay giường mổ, có tín hiệu gần giống dịch não tủy trên T2 và dường như liên quan với túi màng cứng. Tuy nhiên, một lát cắt dọc chưa đủ đóng dấu kết luận; vẫn phải phân biệt với tụ dịch thanh, máu tụ và áp xe sau mổ.

Điểm đáng lo nhất không phải tên của ổ dịch, mà là bàn chân rũ và không thể đi lại. Trong tình huống này, cuộc thi đoán ảnh nên kết thúc sớm để nhường chỗ cho đánh giá ngoại thần kinh khẩn cấp.

Vu Han hôm nay đưa muối lên cõi tâm linh, phán muối là giao ước với Đức Chúa Trời, vật yêu thích của các vị thần, thiếu ...
02/09/2026

Vu Han hôm nay đưa muối lên cõi tâm linh, phán muối là giao ước với Đức Chúa Trời, vật yêu thích của các vị thần, thiếu muối ám chỉ thiếu khôn ngoan, rồi kết luận khoa học bịa ra chữ thiếu iốt để thay cho thiếu muối.

Cu Hùng tiếp điện ngay, phán cơ thể có hai trạm điện là não với tim. Muốn có điện phải có khoáng, khoáng đầy đủ nhất là muối, thiếu muối thì thiếu điện nên ngu nga ngu ngơ, chậm chạp.

Thằng Cường phụ trách Nội khoa, kể bà cô ăn nhạt hơn năm vào viện truyền kali, magie, kết luận bệnh viện bắt ăn nhạt thiếu muối xong truyền đúng thứ có trong muối biển.

Cu Quân ngoài Đà Nẵng phụ trách thương mại, chốt thêm kháng sinh tự nhiên tốt cho sức khoẻ.

Một bên thần học. Một bên điện lực. Một bên nội khoa. Một bên thương mại. Hội này thiếu mỗi ông EVN đến lắp công tơ vào lọ muối.

Natri là chất điện giải thiết yếu, đúng. Kali, magie cũng thiết yếu, đúng. Tế bào thần kinh tạo điện thế màng nhờ chênh lệch ion natri, kali qua bơm Na-K-ATPase, đúng.

Ba cái đúng đó cu Hùng lấy hết rồi nhảy sang ăn thêm muối nạp điện cho não thì mất mẹ cái cầu sinh lý. Vì cơ thể giữ natri, kali bằng thận, bằng aldosterone, bằng ADH, bằng bơm ion trên từng tế bào rất chặt. Không phải sáng ăn thêm thìa muối là não sáng hơn hai bóng đèn.

Mà nếu thiếu muối thì thiếu điện nên ngu nga ngu ngơ, thì bệnh nhân hạ natri máu nặng nằm viện truyền NaCl ưu trương phải rất chậm, rất cẩn thận, vì truyền nhanh gây huỷ myelin cầu não, bệnh nhân có thể liệt vĩnh viễn.

Cu Hùng phán thiếu muối thiếu điện thì cứ ăn thêm muối nạp điện. Cái nạp điện đó ở người suy tim phù phổi là nạp thêm nước vào phổi. Ở người suy thận là nạp thêm natri mà thận không thải được. Ở người tăng huyết áp là nạp thêm áp lực lên thành mạch.

Cu Hùng phán nạp điện mà không hỏi cái ổ cắm có chịu nổi không.

Vu Han phán khoa học bịa ra chữ thiếu iốt để thay cho thiếu muối thì WHO phán rõ nếu dùng muối thì nên dùng muối có iốt, vì thiếu iốt gây bướu cổ, gây suy giáp, gây chậm phát triển trí tuệ ở trẻ.

Thiếu iốt và thiếu muối là hai chuyện khác nhau hoàn toàn, giống thiếu xăng và thiếu xe là hai chuyện khác nhau. Có xe đầy xăng không có nghĩa có xăng đầy xe.

Muối biển thô mà Vu Han bán phần lớn là NaCl. Hàm lượng iốt trong muối biển thô rất thấp, không đủ nhu cầu nên mới phải bổ sung iốt vào muối ăn. Vu Han phán muối biển thô có đủ khoáng, mà cái khoáng quan trọng nhất cho tuyến giáp là iốt thì muối biển thô lại thiếu cái Vu Han phán thừa.

Bà cô thằng Cường ăn nhạt hơn năm vào viện truyền kali, magie thì muốn biết vì sao phải xem xét nghiệm, thuốc đang uống, chức năng thận, tiêu chảy, nôn ói, lợi tiểu, nội tiết, lượng nước uống.

Hạ natri máu có cả đống nguyên nhân, từ thuốc lợi tiểu đến suy tim, bệnh thận, bệnh gan, SIADH, uống quá nhiều nước. Nó không phải cái đèn báo chỉ có một nghĩa là bà ăn nhạt quá.

Mà thằng Cường kể bà cô không có bệnh án, không có xét nghiệm, không có thuốc đang uống, không có chẩn đoán. Có mỗi một câu ăn nhạt rồi thiếu kali magie, rồi kết luận ăn nhạt gây thiếu khoáng.

Cũng giống thấy một người mặc áo mưa bị ướt rồi kết luận áo mưa gây ướt, mà không hỏi áo mưa rách, mưa to quá hay ông này đứng dưới thác.

Mà kali trong muối biển rất ít. Muốn đủ kali từ muối biển phải ăn lượng muối gây tăng huyết áp trước khi kịp đủ kali, giống phán uống bia đủ nước mà uống đủ nước bằng bia thì gan chết trước khi hết khát.

Bốn ông nói bốn thứ, cùng một đường.

Vu Han lấy Kinh Thánh phong thánh cho muối, giao ước với Chúa, vật yêu thích của thần. Mà Kinh Thánh cũng viết các ngươi là muối của đất, nếu muối mất vị mặn thì dùng chi được nữa. Câu đó là ẩn dụ về đạo đức, không phải khuyến cáo dinh dưỡng. Giống Chúa phán ta là ánh sáng không có nghĩa Chúa là bóng đèn.

Cu Hùng lấy điện sinh học biến muối thành pin. Não với tim là hai trạm điện, mà trạm điện não thật sự chạy bằng glucose, oxygen, không phải chạy bằng NaCl rắc thêm mỗi sáng.

Thằng Cường lấy một bà cô không bệnh án kết án ăn nhạt.

Cu Quân đứng cuối dây chuyền phán kháng sinh tự nhiên tốt cho sức khoẻ. Mà kháng sinh tự nhiên là cái gì? Penicillin cũng từ nấm, cũng tự nhiên, mà cu Quân chắc không phán penicillin tốt vì penicillin thuộc Tây y.

Vu Han trước phán muối cấp cứu đột quỵ, muối tốt cho huyết áp, tim mạch, thận, gan; virus bịp; viêm gan B bỏ tenofovir; nước ối bằng nước biển; biển hoá giải chất độc; sốc phản vệ là xui; muỗi không gây sốt xuất huyết; 97 phần trăm chết do hoá xạ trị; sinh thiết cực kỳ ngu dốt; WHO rác rưỡi bịp bợm âm mưu 2.000 năm; giáo sư bác sĩ nhận thức hạn chế.

Cu Hùng phán huyết áp Củi Nồi Nước Ngọn Lửa; đường huyết đói 8 là khoẻ; squat thay insulin; đờm sinh mỡ sinh u; mía năng lượng sống; chè dây 15 ngày quét sạch HP; phôi học thận sinh não sai ngược ma trận; hoá chất bán baking soda chống hoá chất; bấm dái tai đồng ứng não; chích ngón tay cấp cứu đột quỵ.

Thằng Cường phán vaccine đầu độc, treo cổ người tuyên truyền tiêm chủng, virus không tồn tại, chó dại cắn chết vì xyanua, Haiti vaccine vũ khí sinh học, adrenochrome 8 triệu trẻ, động vật không bệnh nên không cần vaccine, graphene oxide trong vaccine.

Mỗi thằng một mảnh ghép, cùng một bức tranh: muối tốt, Tây y xấu, xét nghiệm bịa, thuốc độc, bác sĩ ngu.

Khoa học phiền. Muốn biết thiếu natri phải xét nghiệm. Thiếu kali phải xét nghiệm. Muốn biết vì sao thiếu phải tìm nguyên nhân. Cao huyết áp phải đo. Thuốc phải biết loại, liều.

Hội này tiện hơn.

Muối vừa là khoáng, vừa là điện, vừa là tâm linh, vừa là khôn ngoan, vừa là giao ước với Chúa, vừa là kháng sinh tự nhiên, vừa là pin cho não.

Bệnh nhân thiếu thứ gì cuối cùng cũng quy về thiếu muối. Giống bệnh nhân cu Bơ bệnh gì cuối cùng cũng quy về chanh muối. Bệnh nhân cu Quân bệnh gì cuối cùng cũng quy về cái hũ. Bệnh nhân Huy bệnh gì cuối cùng cũng quy về thiếu linh khí.

Mà cu Bơ từng gói cả triết lý chịu trách nhiệm của hội này trong một câu rất gọn: chết chôn lo gì em.

Đúng thật. Người còn sống thì lên comment cảm ơn. Người đột quỵ vì bỏ thuốc, suy thận vì uống muối, viêm gan bùng vì bỏ tenofovir thì đang nằm viện, lấy đâu ra tay mà gõ phản hồi. Facebook chỉ nhìn thấy người còn comment được, rồi lấy chính đám đó làm bằng chứng cho nhau.

Lúc huyết áp 190, phù phổi, suy tim, suy thận thì lọ muối không có khoa Cấp cứu. Kinh Thánh không có cathlab. Trạm điện cu Hùng không có máy thở. Bà cô thằng Cường vẫn nằm viện truyền đúng cái kali, magie mà bệnh viện pha, chứ không phải muối biển pha.

Lúc ấy phải đem cái cơ thể đang hết điện vào bệnh viện, nơi mấy ông vừa bảo toàn là giả.

Nghị định 330/2026/NĐ-CP Điều 11 từ 19/8/2026 phán chia sẻ phương pháp chưa được cơ quan thẩm quyền cho phép phạt 5 đến 10 triệu, khuyên bệnh nhân trì hoãn phác đồ đã công nhận cũng phạt.

Phán muối là giao ước với Chúa, thiếu muối thiếu khôn ngoan, thiếu iốt là bịa, phán ăn thêm muối nạp điện cho não, phán ăn nhạt gây thiếu khoáng, rồi bệnh nhân tăng huyết áp đang uống thuốc đọc xong bỏ thuốc, ăn mặn hơn, huyết áp tăng, mạch máu chịu thêm vài năm rồi đột quỵ, thì Điều 11 không hỏi muối có phải giao ước với Chúa không.

Điều 11 hỏi ai đã khuyên bệnh nhân ăn mặn hơn, bỏ thuốc huyết áp.

Mà Chúa không kê đơn muối cho bệnh nhân tăng huyết áp.

Cái đó Vu Han tự kê, rồi ký tên Chúa.

Tuệ Lâm hôm nay bảo bà con khỏi mua linh chi tốn tiền, rồi mở luôn quầy cơ xương khớp trong bếp. Thoái hoá gối giao chân...
02/09/2026

Tuệ Lâm hôm nay bảo bà con khỏi mua linh chi tốn tiền, rồi mở luôn quầy cơ xương khớp trong bếp. Thoái hoá gối giao chân gà hầm đậu phộng, thoái hoá cổ giao hạt đu đủ, tràn dịch gối giao cám gạo ngải cứu, g*i gót giao dấm ăn.

Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình đầu tư MRI, X-quang, nội soi khớp hơi phí. Tuệ Lâm cần cái nồi, cái cối, chai dấm là nhận gần hết tầng cơ xương khớp. Mà bảo khỏi mua linh chi tốn tiền nghe rất thương bà con, nhưng tuần trước chính Tuệ Lâm bán linh chi cho cô ung thư vú di căn 5 nơi, cho chị Loan tuyến giáp vào thuốc đáp ứng tốt thì linh chi nhận cúp. Tuần này linh chi tốn tiền quá, chuyển sang chân gà dấm ăn. Chắc linh chi mùa này tăng giá.

Câu đáng đọc nhất nằm phía dưới: ai điều trị Tây y mệt mỏi quá, tốn kém quá, không có điều kiện thì có thể dùng vì chẳng tổn hại gì.

Mà ai bảo chẳng tổn hại gì?

Tràn dịch khớp gối không phải một bệnh để cứ thấy gối to là đắp cám. Nó có thể do thoái hoá, do chấn thương, do gout, do giả gout, do viêm khớp, do nhiễm khuẩn. Có trường hợp phải chọc dịch tìm tinh thể, vi khuẩn, máu.

Khớp nhiễm khuẩn mà bệnh nhân nghe câu không có điều kiện thì đắp cám ngải cứu vài tuần, lúc quay lại viện sụn khớp đã bị phá. Vi khuẩn ăn mấy tuần, sụn không mọc lại được. Cái đắt không phải gói cám. Cái đắt là cái khớp.

Mà gói cám mấy nghìn đồng, cái khớp nhân tạo mấy chục triệu. Chẳng tổn hại gì thì tổn hại gì mới gọi là tổn hại?

Hạt đu đủ giã nát có thể làm da nóng rát. Nó đéo có bàn tay chui qua da, qua cơ, qua dây chằng, qua xương, gọt g*i, mở lỗ liên hợp, giải ép tuỷ.

Người chỉ đau cổ là một chuyện. Người đã yếu tay, vụng bàn tay, đi loạng choạng vì chèn ép tuỷ cổ lại là chuyện khác. Đắp hạt đu đủ phân biệt hai người đó bằng cách nào? Hạt đu đủ không có MRI trong ruột.

G*i gót chân ngâm dấm nghe rất hợp triết lý nhà bếp. Nhìn chữ g*i tưởng cục vôi bám ngoài da, gặp acid sẽ tan như cặn ấm nước. Tiếc là g*i xương nằm trong xương. Dấm ở cái chậu ngoài chân không bò xuyên gót vào hoà tan xương theo ý Tuệ Lâm, giống đổ nước rửa bát lên nắp capo phán rửa máy xe.

Mà g*i gót đau chưa chắc vì g*i. Nhiều người có g*i gót trên X-quang mà không đau. Đau thường do viêm cân gan chân, do tải trọng, do giày dép, do cơ sinh học bàn chân. Ngâm dấm không sửa được cân gan chân, giống rửa mặt không sửa được đau đầu.

Chân gà hầm đậu phộng ăn ngon thì ăn, có protein, có năng lượng. Nhưng thoái hoá khớp gối là bệnh của toàn bộ khớp: sụn, xương dưới sụn, màng hoạt dịch, cơ, tải trọng. Hướng dẫn bàn vận động, giảm cân nếu thừa, thuốc giảm đau phù hợp, vật lý trị liệu, dụng cụ hỗ trợ, đôi khi phẫu thuật.

Chân gà chưa được phong chức bác sĩ chỉnh hình chỉ vì trong chân nó cũng có khớp. Giống phán ăn não heo bổ não, ăn gan heo bổ gan, ăn mắt cá bổ mắt. Đó là doctrine of signatures thế kỷ 16, không phải y học thế kỷ 21. Mà Tuệ Lâm hôm trước cũng phán củ ấu giống âm hộ nên phòng ung thư cổ tử cung. Cùng một triết lý: giống cái gì bổ cái đó.

Tuệ Lâm trước có cô ung thư vú di căn 5 nơi, hoá trị đáp ứng tốt thì linh chi nhận cúp. Mười người khiêng tủ, Tuệ Lâm đặt tay bậc cuối chụp ảnh phán nhờ tôi. Chị Loan tuyến giáp vào thuốc đáp ứng tốt thì linh chi nhận công. Trứng, mì gói, nước đá, sữa hạt gây tái phát ung thư. ESPEN phán bệnh nhân ung thư cần đủ năng lượng, protein. Bài thuốc ung thư giai đoạn cuối cầu may, NCI phán chăm sóc giảm nhẹ vẫn là điều trị.

Rồi củ ấu phòng ung thư cổ tử cung vì giống âm hộ, cám gạo hút dịch khớp, hạt đu đủ chữa cột sống cổ, bắp cải chữa loét dạ dày, củ sen chữa viêm phù nề. Hôm nay thêm chân gà, dấm ăn, hạt đu đủ, cám gạo.

Bệnh đổi. Món đổi. Cách kể không đổi.

Lấy một chút kiến thức thật, nối thêm đoạn suy diễn, để người bệnh tự hiểu phần còn lại.

Cuối bài Tuệ Lâm kêu gọi chuyển tiền giúp mái ấm bệnh nhân ung thư nghèo. Giúp người nghèo thì tốt, chẳng có gì châm chọc. Nhưng một bữa cơm từ thiện không biến bài thuốc chưa chứng minh thành phương pháp chữa bệnh. Hai việc phải tách ra.

Làm việc tốt không tự cấp bằng chứng khoa học cho chân gà, dấm ăn, hạt đu đủ. Giống hiến máu nhân đạo không tự cấp bằng bác sĩ huyết học.

Mà người nghèo không có điều kiện thì dùng chân gà dấm ăn vì chẳng tổn hại gì, nghe rất thương. Nhưng người nghèo càng không nên được chữa bằng tiêu chuẩn thấp hơn người có tiền.

Người giàu thoái hoá khớp có MRI, có bác sĩ chỉnh hình, có vật lý trị liệu, có thuốc đúng chỉ định. Người nghèo thoái hoá khớp có chân gà, dấm ăn, cám gạo.

Đó không phải giúp.

Đó là chia y tế theo giai cấp bằng cái bếp.

Người nghèo thiếu tiền.

Không phải thiếu quyền được chẩn đoán đúng.

Nghị định 330/2026/NĐ-CP Điều 11 từ 19/8/2026 phán chia sẻ phương pháp, bài thuốc chưa được cơ quan thẩm quyền cho phép phạt 5 đến 10 triệu; khuyên bệnh nhân trì hoãn phác đồ đã công nhận cũng phạt.

Phán cám gạo chữa tràn dịch khớp, hạt đu đủ chữa thoái hoá cổ, dấm ăn chữa g*i gót, chân gà chữa thoái hoá gối, rồi phán ai Tây y mệt mỏi, tốn kém thì dùng vì chẳng tổn hại gì, thì Điều 11 không hỏi Tuệ Lâm có thương bà con không.

Điều 11 hỏi Tuệ Lâm đã khuyên ai bỏ điều trị chỉnh hình, đắp cám, ngâm dấm.

Mà chẳng tổn hại gì là câu Tuệ Lâm phán.

Còn cái khớp nhiễm khuẩn bị phá vì đắp cám hai tuần thay vì đi viện thì nó không phán.

Nó chỉ đau.

NHÌN THẤY THOÁT VỊ RỒI, NHƯNG NÊN GỌI NÓ LÀ GÌ?Bệnh nhân đau lưng dữ dội kéo dài sáu tháng. Trên MRI cột sống thắt lưng,...
02/09/2026

NHÌN THẤY THOÁT VỊ RỒI, NHƯNG NÊN GỌI NÓ LÀ GÌ?

Bệnh nhân đau lưng dữ dội kéo dài sáu tháng. Trên MRI cột sống thắt lưng, một đĩa đệm tầng thấp đã thoái hóa, giảm tín hiệu và có khối vật liệu đĩa đệm thoát ra phía sau, chèn ép rõ túi màng cứng.

Câu hỏi đặt ra là nên gọi tổn thương này thế nào: lồi đĩa đệm dạng khu trú-protrusion, thoát vị dạng đùn-extrusion, hay thoát vị có mảnh rời-sequestration?

Sẽ có bạn người gọi thoát vị L4–L5, người bảo L5–S1, người chọn extrusion. Có người rẽ sang trượt đốt sống, hẹp ống sống hoặc viêm đĩa đệm–đốt sống. Lại có người chưa thống nhất tên bệnh đã nhanh tay kê luôn ozone. Một lát MRI mà mở được gần đủ các chuyên khoa cột sống.

Muốn phân biệt không thể chỉ nhìn khối thoát vị to hay nhỏ. Với protrusion, phần đáy tiếp xúc với đĩa mẹ vẫn rộng hơn phần nhô ra. Với extrusion, phần vật liệu thoát ra ngoài lớn hơn cổ nối hoặc đã di trú vượt khỏi giới hạn khoang đĩa. Sequestration chỉ được gọi khi mảnh thoát vị tách rời hoàn toàn, không còn liên tục với đĩa mẹ.

Tôi nghiêng về chẩn đoán thoát vị đĩa đệm dạng đùn, kèm di trú xuống dưới. Trên hình này, phần thoát vị lớn hơn đoạn cổ nối với đĩa đệm. Chưa nên gọi là mảnh rời vì một lát sagittal chưa chứng minh được sự mất liên tục với đĩa mẹ.

Còn các bạn gọi tổn thương này là gì? Nếu chọn mảnh rời, xin chỉ giúp dấu hiệu nào trên phim chứng minh nó đã tách hoàn toàn.

DI CĂN CỘT SỐNG: XẠ TRỊ BÂY GIỜ KHÔNG CHỈ NHẰM GIẢM ĐAUNgày trước, nhắc đến ung thư di căn cột sống là người ta nghĩ nga...
02/09/2026

DI CĂN CỘT SỐNG: XẠ TRỊ BÂY GIỜ KHÔNG CHỈ NHẰM GIẢM ĐAU

Ngày trước, nhắc đến ung thư di căn cột sống là người ta nghĩ ngay đến một cuộc chiến mang tính cầm cự. Xạ trị chủ yếu để giảm đau, giữ vận động được ngày nào hay ngày ấy. Cách nhìn ấy không sai trong bối cảnh cũ, nhưng nếu giữ nguyên đến năm 2026 thì hơi giống mang bản đồ giấy đi tìm đường cao tốc mới mở.

Bài tổng quan đăng ngày 5/5/2026 trên Nature Reviews Clinical Oncology cho thấy xạ trị định vị thân, hay SBRT, đã làm thay đổi đáng kể cách điều trị di căn cột sống. Thay vì chiếu một vùng tương đối rộng với liều giảm nhẹ, SBRT dùng hệ thống định vị hình ảnh để đưa liều cao tập trung vào tổn thương, thường trong tối đa năm phân liều, đồng thời cố gắng hạn chế liều vào tủy sống, rễ thần kinh và các mô lành lân cận. Bằng chứng mức độ cao cho thấy SBRT có thể tạo đáp ứng hết đau hoàn toàn và kiểm soát khối u tại chỗ tốt hơn xạ trị ngoài quy ước ở những bệnh nhân được lựa chọn phù hợp.

Bức ảnh đi kèm là hình lập kế hoạch xạ trị cho di căn cột sống từ ung thư phổi. Cùng một tổn thương được khảo sát trên CT cửa sổ mô mềm, CT cửa sổ xương và MRI mô phỏng T1, T2 ở ba mặt phẳng. Các đường màu là những thể tích được khoanh để lập kế hoạch. Nhìn thì chỉ có vài nét đỏ xanh, nhưng phía sau là cả một cuộc thương lượng bằng milimet: phải phủ đủ vùng cần điều trị mà không được hào phóng quá tay với tủy sống.

Tuy nhiên, SBRT không phải chiếc búa thần để thấy đốt sống có di căn là đem ra đóng. Trước điều trị phải đánh giá cột sống có mất vững hay không, u đã lan vào khoang ngoài màng cứng đến mức nào, người bệnh có tổn thương thần kinh không, tiên lượng sống ra sao và loại ung thư nguyên phát thuộc nhóm nhạy hay kháng xạ. Trường hợp chèn ép ngoài màng cứng mức độ cao hoặc cột sống mất vững có thể cần phẫu thuật giải ép, cố định hay thủ thuật can thiệp trước khi tính đến SBRT. Nói cách khác, máy xạ trị rất hiện đại nhưng nó chưa học được nghề thay cho ngoại khoa cột sống.

SBRT có thể được sử dụng khi di căn cột sống mới được phát hiện, sau phẫu thuật hoặc trong một số trường hợp cần xạ trị lại. Nhưng liều cao và chính xác không đồng nghĩa với không có biến chứng. Gãy xẹp thân đốt sống là tác dụng không mong muốn do điều trị thường gặp nhất được bài tổng quan nhấn mạnh. Tổn thương muộn của cấu trúc thần kinh hiếm hơn nhưng nếu xảy ra có thể rất nặng. Những tổn thương cạnh cột sống, xâm lấn ngoài màng cứng mức độ cao và một số mô bệnh học kháng xạ cũng làm tăng nguy cơ thất bại tại chỗ.

Điểm mới không phải từ nay mọi bệnh nhân di căn cột sống đều được SBRT. Điểm mới là mục tiêu điều trị đã đi xa hơn chuyện chiếu tia cho bớt đau rồi chờ bệnh tiến triển. Với người bệnh phù hợp, y học hiện nay có thể hướng tới giảm đau bền hơn và kiểm soát chính ổ di căn lâu hơn. Nhưng để đạt được điều đó cần bác sĩ ung bướu nội khoa, xạ trị, chẩn đoán hình ảnh, ngoại thần kinh hoặc ngoại cột sống, điện quang can thiệp và vật lý y khoa cùng ngồi vào một bàn.

Cột sống không phải nơi thích hợp để một chuyên khoa tự mình làm anh hùng. Chỉ lệch vài milimet, người phải trả giá không phải cái máy mà là người bệnh.

Nguồn: The transformative role of SBRT in the management of spinal metastases. Nature Reviews Clinical Oncology. 2026;23:582–602.

Khi ung thư phổi EGFR chuyển thành SCLC: miễn dịch có thể quay trở lại cuộc chơi?Một bệnh nhân NSCLC đột biến EGFR đang ...
02/09/2026

Khi ung thư phổi EGFR chuyển thành SCLC: miễn dịch có thể quay trở lại cuộc chơi?

Một bệnh nhân NSCLC đột biến EGFR đang dùng TKI, rồi một ngày bệnh tiến triển rất nhanh, khối u lớn lên khác thường, di căn đổi kiểu. Lúc này vấn đề đôi khi không còn là tìm thêm một cơ chế kháng EGFR. Bản thân khối u có thể đã đổi “hình hài” sang ung thư phổi tế bào nhỏ.

Một nghiên cứu thực tế vừa đăng trên Lung Cancer rà soát dữ liệu từ 26 trung tâm tại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2016–2025. Trong khoảng 30.265 bệnh nhân ung thư phổi, có khoảng 2.428 trường hợp NSCLC đột biến EGFR. Cuối cùng xác định được 59 bệnh nhân có chuyển dạng SCLC được chứng minh bằng sinh thiết, tương đương 2,4% quần thể EGFR-mutant được sàng lọc.

Khoảng thời gian trung vị từ lúc bệnh di căn đến khi chuyển dạng là 22 tháng. PFS với TKI bước một khoảng 14 tháng. Không thấy khác biệt rõ về PFS giữa erlotinib, gefitinib, afatinib và osimertinib trong quần thể nhỏ này.

Điều đáng nhớ là khối u đổi hình thái nhưng không nhất thiết “xóa” nguồn gốc cũ. Trong 11 mẫu chuyển dạng có thể kiểm tra lại đột biến EGFR ban đầu, 10 vẫn giữ nguyên đột biến EGFR sáng lập. Nghĩa là đây nhiều khả năng vẫn là cùng một ung thư, chỉ là nó đã chuyển sang một trạng thái sinh học khác.

Sau chuyển dạng, bệnh chạy khá nhanh. 5/59 bệnh nhân tử vong trước khi kịp bắt đầu điều trị toàn thân. Trong 54 người được điều trị, 37 dùng platinum + etoposide, còn 16 trường hợp trong phân tích so sánh nhận platinum + etoposide kèm miễn dịch.

Và đây là phần khiến nghiên cứu được chú ý.

Tỷ lệ đáp ứng với hóa trị đơn thuần là 37,8%, trong khi nhóm hóa miễn dịch đạt 71,4%. PFS sau chuyển dạng chỉ tăng từ khoảng 3 lên 5 tháng và không đạt ý nghĩa thống kê.

Nhưng OS lại tách khá rõ: 17 tháng với hóa miễn dịch so với 9 tháng với platinum + etoposide, log-rank p=0,026. Nguy cơ tử vong trong phân tích Cox đơn biến thấp hơn với hóa miễn dịch, HR 0,327; 95% CI 0,139–0,767.

Con số 17 so với 9 tháng rất dễ khiến người ta muốn kết luận rằng miễn dịch đã “có tác dụng trở lại” sau chuyển dạng SCLC. Nhưng nghiên cứu này chưa cho phép đi xa đến thế.

Đây là nghiên cứu hồi cứu, không ngẫu nhiên; nhóm hóa miễn dịch nhỏ; xét nghiệm gene, PD-L1 và DLL3 không đầy đủ; phác đồ giữa các trung tâm không hoàn toàn đồng nhất. Quan trọng hơn, không có mô hình đa biến để hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu, nên HR 0,327 là một mối liên quan quan sát được chứ không phải hiệu quả điều trị đã được chứng minh như trong thử nghiệm ngẫu nhiên.

Thứ có thể áp dụng ngay hôm nay lại đơn giản hơn nhiều: đừng mặc định mọi tiến triển sau EGFR-TKI vẫn là adenocarcinoma EGFR-mutant như ngày đầu.

Trong nghiên cứu này, tất cả 59 trường hợp đều được xác nhận chuyển dạng bằng mô bệnh học. Thời gian trung vị từ khi phát hiện tiến triển trên hình ảnh đến sinh thiết chỉ 14 ngày, và khoảng 71% được sinh thiết trong vòng 30 ngày.

Một khối u đã đổi bản chất mà vẫn điều trị theo tờ kết quả sinh thiết của vài năm trước thì chẳng khác nào dùng bản đồ cũ để tìm một thành phố vừa thay toàn bộ đường sá.

Còn câu hỏi có nên thường quy thêm miễn dịch vào platinum-etoposide sau chuyển dạng SCLC hay không, dữ liệu hiện tại mới đủ để đặt câu hỏi, chưa đủ để đóng dấu câu trả lời. Nhưng tín hiệu OS 17 so với 9 tháng đủ đáng chú ý để cần một nghiên cứu tiền cứu tử tế hơn.

Nguồn: Demir N, Kıkılı CI, Kemik F, et al. Adding Immunotherapy to Chemotherapy May Improve Survival After SCLC Transformation in EGFR-Mutant NSCLC: A Multicenter Real-World Study. Lung Cancer. 2026. doi:10.1016/j.lungcan.2026.109590.

KHỐI U 18 CM TRONG PHỔI VÀ BỐN NĂM TRÌ HOÃN CUỘC MỔMột phụ nữ 69 tuổi đến viện vì khó thở khi gắng sức ngày càng tăng. C...
02/09/2026

KHỐI U 18 CM TRONG PHỔI VÀ BỐN NĂM TRÌ HOÃN CUỘC MỔ

Một phụ nữ 69 tuổi đến viện vì khó thở khi gắng sức ngày càng tăng. CT ngực cho thấy một khối rất lớn ở thùy dưới phổi trái, ranh giới khá rõ, giàu mạch máu, kích thước khoảng 15 × 14,5 × 12,5 cm. Trên X-quang, phần lớn nửa dưới lồng ngực trái gần như bị một đám mờ chiếm chỗ. Nhìn khối u to như vậy, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến ung thư phổi. Nhưng phổi không phải cái kho chỉ chứa một loại ung thư, thấy khối là gọi tên luôn thì giải phẫu bệnh chắc chỉ còn việc đóng dấu.

Bệnh nhân có tiền sử hút thuốc khoảng 20 gói-năm, bị vảy nến thể mủ và sử dụng corticosteroid kéo dài. Điều đáng chú ý là khối u đã được sinh thiết dưới hướng dẫn CT từ bốn năm trước. Mẫu sinh thiết cho thấy một u tế bào hình thoi, gợi ý u sợi đơn độc, nhưng phẫu thuật khi ấy chưa được thực hiện. Bốn năm trôi qua, khối u tiếp tục lớn lên cho đến khi việc thở cũng trở thành một gánh nặng.

U sợi đơn độc, tên tiếng Anh là solitary fibrous tumor hay SFT, là một u trung mô hiếm gặp. Trong lồng ngực, phần lớn SFT xuất phát từ màng phổi. Trường hợp này đặc biệt ở chỗ trong mổ, các bác sĩ xác định u phát sinh từ nhu mô phổi trái, không bám và không xâm nhập màng phổi. Vị trí hiếm cộng với hình ảnh không đặc hiệu khiến nó có thể mang khuôn mặt của nhiều khối u phổi lành hoặc ác tính khác.

Trước mổ, FEV₁ của bệnh nhân chỉ đạt 1,17 lít, tương đương 46% giá trị dự đoán. Tuy vậy, nghiệm pháp đi bộ sáu phút và leo cầu thang cho thấy dự trữ chức năng vẫn đủ để cân nhắc phẫu thuật. Nội soi phế quản không phát hiện u phát triển trong lòng phế quản. Tim còn bảo tồn chức năng hai thất. Hội đồng đa chuyên khoa quyết định cắt bỏ khối u.

Đây không phải ca mổ có thể bước vào phòng rồi vừa làm vừa tính. Khối u lớn gây hiệu ứng choán chỗ, có nguy cơ làm khó thông khí và ảnh hưởng huyết động sau khi gây mê. Ê-kíp chuẩn bị đặt ống nội khí quản hai nòng để thông khí một phổi, theo dõi huyết động xâm lấn và thậm chí bàn trước phương án ECMO dự phòng. ECMO cuối cùng không phải sử dụng, nhưng việc chuẩn bị ấy cho thấy khối u lớn không chỉ làm khó bác sĩ phẫu thuật; nó còn có thể làm cả ê-kíp gây mê hồi sức mất ngủ.

Bệnh nhân được mổ mở, cắt thùy dưới phổi trái và nạo hạch trung thất. Sau mổ, phần nhu mô phổi còn lại nở tương đối tốt trên X-quang. Tuy nhiên, diễn biến không hoàn toàn êm như phần tóm tắt của bài báo mô tả. Bệnh nhân đã phải đặt lại nội khí quản và hồi sức tim phổi vì mất ổn định tim phổi, đến ngày thứ năm mới rút được ống. CT sau mổ còn phát hiện một thuyên tắc phổi nhỏ ở nhánh ngoại vi động mạch thùy trên phải, được điều trị bằng apixaban. Tràn dịch màng phổi sau mổ được xử trí bảo tồn bằng thuốc lợi tiểu. Bệnh nhân chuyển khỏi hồi sức ngày thứ 12 và xuất viện ổn định vào ngày thứ 16.

Khối u sau khi lấy ra có đường kính 18 cm, nặng 1.466 gram. Dưới kính hiển vi là u tế bào hình thoi, có tăng sinh tế bào, hoạt động phân bào tăng khu trú và những vùng hoại tử. Nhuộm hóa mô miễn dịch cho thấy STAT6 bắt màu nhân lan tỏa và mạnh, giúp xác nhận chẩn đoán SFT. Kích thước lớn, hoại tử và hoạt động phân bào khiến khối u được xếp vào nhóm nguy cơ tái phát và di căn cao. Đây không phải câu chuyện khối u đã cắt xong thì phủi tay coi như hết nợ.

Phẫu thuật đạt diện cắt R0. Hội đồng đa chuyên khoa không chỉ định hóa trị bổ trợ vì bằng chứng cho điều trị toàn thân sau khi đã cắt hoàn toàn SFT còn hạn chế và chưa thuyết phục, kể cả ở nhóm nguy cơ cao. Kế hoạch được chọn là theo dõi hình ảnh có hệ thống trong ít nhất mười năm. Sau ba tháng, bệnh nhân bớt khó thở rõ rệt; CT chưa thấy u tồn dư, tái phát hoặc di căn. Ba tháng là một kết quả ban đầu thuận lợi, không phải giấy bảo hành cho mười năm tiếp theo.

Ca bệnh này không chứng minh rằng mọi SFT đều phải mổ giống nhau, càng không chứng minh khối u phổi lớn nào cũng là SFT. Nó chỉ nhắc một điều khá cũ nhưng thường bị quên: hình ảnh cho biết khối u nằm ở đâu và đang làm gì, còn tên thật của nó vẫn phải dựa vào mô bệnh học cùng hóa mô miễn dịch. Và khi một khối u có khả năng lớn dần trong nhiều năm, trì hoãn không làm nó biến mất. Trì hoãn chỉ giúp nó có thêm thời gian chiếm chỗ trong lồng ngực.

MRI KHỚP VAI: THẤY MỘT LÁT CẮT, ĐỪNG VỘI THUỘC CẢ CUỐN GIẢI PHẪUKhớp vai cho cánh tay một biên độ vận động rất rộng, đổi...
02/09/2026

MRI KHỚP VAI: THẤY MỘT LÁT CẮT, ĐỪNG VỘI THUỘC CẢ CUỐN GIẢI PHẪU

Khớp vai cho cánh tay một biên độ vận động rất rộng, đổi lại độ vững tự nhiên không cao. Chỏm xương cánh tay khá lớn nhưng ổ chảo xương vai lại nông. Một quả bóng to đặt trên chiếc đĩa nhỏ, nếu chỉ trông cậy vào xương thì cánh tay chắc đã trật từ lúc chúng ta với tay lấy chiếc điện thoại đầu tiên trong ngày.

Trên lát cắt vành chếch này có thể nhận ra những mốc giải phẫu lớn. Đầu ngoài xương đòn nằm cạnh mỏm cùng vai, tạo nên khớp cùng-đòn. Mỏm cùng vai tạo mái xương phía trên chỏm xương cánh tay. Phía ngoài là cơ delta; phía trên và trong có cơ thang. Chỏm xương cánh tay tiếp khớp với ổ chảo, còn phía quanh xương vai có các khối cơ như cơ dưới vai, cơ tròn lớn và cơ lưng rộng.

Nhìn được các mốc ấy chưa có nghĩa là đã đọc xong MRI vai. Những cấu trúc thường gây đau như gân trên g*i, gân dưới g*i, gân dưới vai, gân đầu dài cơ nhị đầu, sụn viền và túi thanh mạc dưới mỏm cùng–dưới cơ delta không thể đánh giá đầy đủ bằng một hình duy nhất.

Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh phải xem liên tiếp nhiều lát cắt ở ba mặt phẳng, phối hợp nhiều chuỗi xung. Một dải đen trên một lát có thể là gân, bao khớp, mạch máu mất tín hiệu dòng chảy hoặc đơn giản là hiệu ứng thể tích bán phần. MRI mà chỉ cần nhìn một ảnh rồi gọi tên mọi chấm đen thì ngành chẩn đoán hình ảnh đã không cần đào tạo nhiều năm đến vậy.

Vì thế, hình này dùng để học định hướng giải phẫu cơ bản. Nó không phải sơ đồ đầy đủ của chóp xoay, cũng không thể dùng để kết luận rách gân, tổn thương sụn viền hay chèn ép thần kinh.

Học MRI trước hết phải biết mình đang nhìn mặt phẳng nào. Sau đó mới đến câu hỏi cấu trúc gì, tín hiệu ra sao và có bất thường hay không. Đi đúng thứ tự thì khó mấy cũng lần ra. Nhảy thẳng đến chẩn đoán thì thường chỉ lần ra… một kết luận rất tự tin.

ĐỌC X-QUANG NGỰC ĐỪNG NHƯ ĐI CHỢ NGẮM ĐƯỢC MÓN NÀO THÌ MUA MÓN ĐÓMột tấm X-quang ngực nhìn qua chỉ có hai lá phổi đen đe...
02/09/2026

ĐỌC X-QUANG NGỰC ĐỪNG NHƯ ĐI CHỢ NGẮM ĐƯỢC MÓN NÀO THÌ MUA MÓN ĐÓ

Một tấm X-quang ngực nhìn qua chỉ có hai lá phổi đen đen, trái tim trắng trắng, vài chiếc xương sườn chạy ngang chạy dọc, tưởng đơn giản nhưng lại là nơi người đọc phim rất dễ mắc bệnh thấy gì nói nấy. Thấy đám mờ liền gọi viêm phổi, thấy bóng tim rộng liền bảo tim to, thấy một góc phổi sạch sẽ thì vui vẻ kết luận bình thường, trong khi cái tổn thương đang ngồi im sau bóng tim cười khẽ.

Cho nên trước khi đọc phổi phải xem tấm phim có đáng để đọc hay không. Tên đúng người chưa, chụp ngày nào, bệnh nhân đứng hay nằm, phim PA hay AP, có xoay người không, hít vào đủ chưa, tia có xuyên phù hợp không, hai đỉnh phổi và hai góc sườn hoành đã được lấy hết chưa. Phim AP chụp tại giường thường làm bóng tim lớn hơn thực tế, thành ra có những quả tim bị kết án phì đại chỉ vì máy chụp đứng gần quá. Hai đầu trong xương đòn lệch khỏi mỏm g*i thì phim có thể bị xoay. Thấy khoảng năm đến bảy cung sườn trước nằm trên vòm hoành thường gợi ý mức hít vào tương đối đạt. Qua bóng tim vẫn thấy lờ mờ cột sống ngực thì độ xuyên tia có thể chấp nhận. Tất cả chỉ là kiểm tra chất lượng, không phải đủ mấy dấu ấy là phim tự nhiên hóa thành chân lý.

Phim đọc được rồi mới đi từ trên xuống dưới. Nhìn khí quản có ở giữa không, carina và hai phế quản chính có bị hẹp hay đẩy lệch không. So hai phế trường, tìm đám đông đặc, nốt, khối, xẹp phổi, hang, tổn thương mô kẽ, tràn khí và tràn dịch. Sau đó nhìn bóng tim, rốn phổi, trung thất, quai động mạch chủ. Tỷ lệ tim ngực không quá 50% chỉ đáng bàn trên phim PA đứng chụp đủ chuẩn, chứ đem thước đo một phim AP nằm rồi phán tim to thì cái thước rất nghiêm túc mà người cầm thước hơi vội. Tiếp tục nhìn hai vòm hoành, góc sườn hoành, bóng hơi dạ dày, khí tự do dưới hoành, rồi xương, mô mềm, dây dẫn, ống nội khí quản, catheter và các thiết bị khác.

Đọc hết vẫn chưa được nghỉ. Phải quay lại bốn nơi chuyên nuôi tổn thương trốn tìm: hai đỉnh phổi, vùng sau tim, rìa ngoài phổi và góc sườn hoành. So hai bên với nhau, rồi so với phim cũ. Một nốt vẫn nằm yên nhiều năm và một nốt vừa mọc trong ba tháng nhìn giống nhau trên một tấm phim, nhưng câu chuyện phía sau khác nhau rất xa.

Cuối cùng mới nói tổn thương nằm ở đâu, hình dạng thế nào, phân bố ra sao, có dấu hiệu gì đi kèm, từ đó đặt chẩn đoán phân biệt rồi chọn khả năng phù hợp nhất. Không phải cứ thấy đám mờ là gọi tên một căn bệnh cho bài báo cáo có đoạn kết. X-quang chỉ kể một phần câu chuyện. Phần còn lại nằm ở triệu chứng, khám lâm sàng, phim cũ và các xét nghiệm liên quan.

ABCDE hay RIPE không phải thần chú biến người học thành bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Nó chỉ là cái hàng rào giữ đôi mắt khỏi chạy lung tung. Mà đọc phim, nhiều khi nhìn thấy tổn thương chưa chắc đã khó bằng nhớ nhìn cho hết tấm phim.

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phòng chống Ung thư Phổi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share