03/07/2026
ĐAU THẮT LƯNG – "CĂN BỆNH QUỐC DÂN" VÀ NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM THƯỜNG GẶP TRONG ĐIỀU TRỊ
Dưới đây là bản tóm tắt (Abstract) từ JAMA – một trong những tạp chí y khoa uy tín nhất thế giới – cập nhật những nhận định lâm sàng và phương pháp điều trị mới nhất.
Mời các bạn cùng đọc kỹ nội dung bài viết dưới đây để có cái nhìn đúng đắn và khoa học hơn về căn bệnh "quốc dân" này! 👇
Link bài viết gốc: https://jamanetwork.com/jou.../jama/article-abstract/2850593
Tóm tắt
TẦM QUAN TRỌNG: Đau thắt lưng được định nghĩa là đau khu trú từ dưới bờ sườn đến trên nếp lằn mông, có hoặc không kèm đau lan xuống chân.
Đau thắt lưng ảnh hưởng đến khoảng 619 triệu người trên toàn thế giới và là nguyên nhân hàng đầu gây số năm sống chung với bệnh tật.
NHẬN ĐỊNH LÂM SÀNG: Khoảng 90% bệnh nhân đến khám vì đau thắt lưng thuộc nhóm không đặc hiệu, nghĩa là đau không liên quan đến các bệnh lý cột sống đặc hiệu (như bệnh lý rễ thần kinh, hẹp ống sống, gãy xương, viêm cột sống trục, nhiễm trùng hoặc ác tính).
Đau thắt lưng được phân loại theo thời gian đau:
-- cấp tính dưới 6 tuần,
-- bán cấp từ 6 đến 12 tuần, và
-- mạn tính trên 12 tuần.
Tỷ lệ hiện mắc chuẩn hóa theo tuổi ở nữ giới (9330/100.000) cao hơn so với nam giới (5520/100.000), và tỷ lệ này tăng dần theo độ tuổi, đạt đỉnh ở khoảng 85 tuổi.
Các YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY ĐAU THẮT LƯNG bao gồm: béo phì, các triệu chứng trầm cảm, đặc thù công việc (ví dụ: bê vác nặng), sử dụng thuốc lá, bệnh mạn tính (ví dụ: đái tháo đường), và có tiền sử đau thắt lưng.
Đau thắt lưng không đặc hiệu cấp tính thường có xu hướng tự hồi phục theo thời gian, 72% người mắc hồi phục trong vòng 12 tháng.
Tiên lượng ít thuận lợi hơn đối với đau thắt lưng không đặc hiệu mạn tính, nhưng 42% bệnh nhân vẫn hồi phục trong vòng 12 tháng.
XỬ TRÍ BAN ĐẦU ĐAU THẮT LƯNG, dù cấp, bán cấp hay mạn tính, gồm: trấn an người bệnh rằng ít có khả năng liên quan đến bệnh lý nghiêm trọng, trao đổi về diễn tiến hồi phục dự kiến, và khuyến nghị duy trì hoạt động thể chất.
Người bệnh nên được khuyến khích tiếp tục các hoạt động thường ngày (gồm cả công việc), tránh nghỉ ngơi kéo dài, và được hướng dẫn cách tự xử trí tình trạng đau của mình nhằm giảm triệu chứng (như chườm ấm) và điều chỉnh nhịp độ hoạt động (duy trì hay tăng dần các hoạt động thường ngày và công việc).
ĐỐI VỚI ĐAU THẮT LƯNG KHÔNG ĐẶC HIỆU CẤP TÍNH, các liệu pháp đầu tay gồm chườm ấm, nắn chỉnh cột sống, xoa bóp, và châm cứu... (thường do các kỹ thuật viên vật lý trị liệu, nắn chỉnh cột sống, châm cứu, xoa bóp thực hiện), cũng như NSAIDs (như ibuprofen) và thuốc giãn cơ vân (như cyclobenzaprine).
ĐỐI VỚI ĐAU THẮT LƯNG KHÔNG ĐẶC HIỆU MẠN TÍNH, các liệu pháp đầu tay bao gồm tập luyện dưới mọi hình thức, liệu pháp tâm lý (ví dụ: liệu pháp nhận thức hành vi - CBT), hoặc các phương pháp tiếp cận kết hợp đa chuyên khoa (như các chương trình quản lý cơn đau, chăm sóc tích hợp giữa vận động và tâm lý), bên cạnh nắn chỉnh cột sống, xoa bóp và châm cứu. NSAIDs nên được cân nhắc là liệu pháp hàng thứ hai đối với đau thắt lưng không đặc hiệu mạn tính.
KẾT LUẬN VÀ Ý NGHĨA LÂM SÀNG: Đau thắt lưng là nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới. Đau thắt lưng không đặc hiệu cấp tính thường có xu hướng tự hồi phục theo thời gian, trong khi đau mạn tính có tiên lượng ít thuận lợi hơn. Đối với bệnh nhân đau cấp tính, điều trị đầu tay gồm các liệu pháp không dùng thuốc và thuốc (như NSAIDs, thuốc giãn cơ). Đối với bệnh nhân đau mạn tính, điều trị đầu tay gồm tập luyện, liệu pháp tâm lý (như nhận thức hành vi - CBT) và chăm sóc kết hợp đa chuyên khoa.