11/07/2026
1 ca viêm tai giữa Cholesteatoma: Phẫu thuật TIỆT CĂN XƯƠNG CHŨM phối hợp kính vi phẫu và NỘI SOI!
Bệnh nhân (BN) nam, 57 tuổi, tiền sử viêm tai giữa phải mạn tính khoảng 7 năm nay, ít khi bị chảy mủ tai (dịch vàng hôi), kèm nghe kém, ù tai, không chóng mặt, không đau đầu.
Cách đây 2 - 3 năm khi đi khám ở 1 bệnh viện tư nhân, BN đã từng được khuyên phẫu thuật nhưng chưa có điều kiện thực hiện.
Gần đây khi ngoáy tăm bông thấy có máu, lo lắng -> đi viện khám, được các bác sĩ giải thích và hiểu về tình trạng viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm có thể dẫn tới các biến chứng nội sọ nguy hiểm như: viêm màng não, áp xe não, viêm tĩnh mạch bên… BN đã chấp nhận vào viện để phẫu thuật.
* Khám nội soi:
Tai phải vùng thượng nhĩ đọng vảy, phần màng căng bình thường => sau khi làm sạch thấy tường thượng nhĩ bị ăn mòn khá nhiều, thượng nhĩ niêm mạc viêm phù nề và có tổ chức Cholesteatoma.
* Thính lực đồ tai phải: Nghe kém hỗn hợp PTA 45dB, ABG 17,5dB
* Phim CT - Scanner: hình ảnh tường thượng nhĩ bị ăn mòn nhiều, ăn mòn trần thượng nhĩ - sào bào, xương đe và đầu xương búa bị ăn mòn.
Phim MRI: không có thoát vị não - màng não vùng trần thượng nhĩ - sào bào (liên quan phẫu thuật). Chuỗi xung Diffusion thấy được hình ảnh Cholesteatoma.
* Bệnh nhân đã được phẫu thuật tiệt căn xương chũm sử dụng phối hợp kính vi phẫu và nội soi.
Phẫu thuật dưới kính vi phẫu được sử dụng ở giai đoạn đầu, ở giai đoạn sau nội soi được sử dụng ở các vị trí nguy cơ, cần thao tác tinh tế (đoạn 2 dây VII, xương bàn đạp, trần thượng nhĩ, gần tĩnh mạch bên…).
Phẫu thuật đã kiểm soát và lấy hết được toàn bộ Cholesteatoma (nếu về sau tái phát sẽ chỉ là từ dạng tồn dư vi thể mà nội soi không phát hiện được), ống tai được chỉnh hình cân đối với hốc mổ.
Sau mổ bệnh nhân ổn định, không liệt mặt, không có các biến chứng viêm màng não, viêm tĩnh mạch bên sau phẫu thuật.
P/s: ở những ca tiệt căn xương chũm nội soi giúp:
+ Dễ quan sát được các ngóc ngách hạn chế bỏ sót Cholesteatoma (nhất là vùng quanh xương bàn đạp, xoang nhĩ, thượng nhĩ trước, góc Citeli)
+ Giảm nguy cơ tổn thương dây VII, màng não, tĩnh mạch bên, ống bán khuyên.