KIẾN TÂM ĐƯỜNG

KIẾN TÂM  ĐƯỜNG 治病要求医生,但健康养生必须要自己来
Trị bệnh cần phải cầu đến thầ

Chúng tôi có các bài thuốc chữa các bệnh:

Mụn trứng cá

Viêm nhiễm đường tiết niệu

Thuốc hỗ trợ hạn chế tác dụng phụ của hóa, xạ trị ung thư...

Thuốc cho trẻ em bị đi ngoài phân sống

Thuốc Chữa Đau Dạ Dày

Thuốc chữa Viêm Gan Mạn

Thuốc trị chảy máu cam ở trẻ em

Thuốc chữa mất ngủ

Thuốc điều trị hội chứng tiền mãn kinh

Đảm bảo uy tín; An toàn; Hiệu quả

Đc

Phú Mỹ- Mỹ Đình-Hà Nội Sđt 01659934693
Chúng tôi nhận tư vấn qua mạng, và gửi thuốc qua đường bưu điện

“Ngũ thường” là những tiêu chuẩn đạo đức mà người xưa truyền lại để giúp duy trì trật tự xã hội, không chỉ thế nó còn ản...
30/09/2017

“Ngũ thường” là những tiêu chuẩn đạo đức mà người xưa truyền lại để giúp duy trì trật tự xã hội, không chỉ thế nó còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cơ thể người, mà cụ thể là nội tạng.
Dưới đây là một số phân tích về sự ảnh hưởng của “ngũ thường” (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) và “ngũ hành” (kim, mộc thủy, hỏa, thổ) đối với nội tạng con người dưới góc độ y học thời cổ đại.

Một người chỉ cần có tâm chính thì khí tất sẽ chính, khi đã có khí chính thì hình thể tất cũng sẽ chính. Theo lý luận của y học Trung Quốc cổ đại thì con người được cấu thành bởi ba bộ phận, là hình, khí và thần. “Hình” chính là chỉ ngoại hình bên ngoài của con người. “Khí” chính là chỉ các kinh lạc, khí huyết của con người. “Thần” là phương diện tinh thần của con người.
Con người bị bệnh là bao gồm có ba nguyên nhân, đó là nguyên nhân bên trong, bên ngoài và nguyên nhân khác. Nguyên nhân bên ngoài chính là sự ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết như nóng, lạnh, gió, hanh khô… Các nguyên nhân bên trong gồm có vui, buồn, giận, lo âu, suy nghĩ, bi thương, sợ hãi… Nguyên nhân khác (không thuộc nguyên nhân bên trong hay bên ngoài) chính là các yếu tố về ẩm thực và nơi sinh sống.

Trạng thái của một người ở vào thời điểm bình thường chính là khỏe mạnh, thông thuận và sáng suốt. Ngược lại, khi không biết được quy luật tự nhiên, tùy tiện làm việc xằng bậy, thì kết quả sẽ là gặp điều hung tai. Một loại thể hiện của “hung tai” chính là bệnh tật, thậm chí là bệnh nan y khó chữa. Mà trên thực tế rất nhiều loại bênh nan y là do nội tâm của con người gây ra. Trong đó, luân lý đạo đức (ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) là có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí quyết định đến sự tồn vong của con người thông qua “ngũ tạng”.

“Nhân” đối ứng với gan (ngũ tạng) và mộc (ngũ hành)

Trong “ngũ thường” đứng đầu là “nhân” (lòng nhân từ, nhân ái). “Nhân” đối ứng với “mộc” trong ngũ hành và “mùa xuân” trong bốn mùa. Mùa xuân là thời điểm cây cối sinh trưởng, vạn vật sinh sôi nảy nở. Nó đối ứng với trạng thái tâm lý của con người là yêu thương, nhân từ. “Nhân từ” ở đây là yêu thương người khác, là từ bi lương thiện, có thể thông cảm với người khác.

Cổ nhân thường nói: “Thượng thiên có đức hiếu sinh”, chữ “sinh” này cũng là có ý nghĩa nhân từ. “Sinh” là sức sống, đối ứng với tạng phủ là lá gan. Gan ở đây cũng không phải chỉ là gan trong tây y thường nói đến, mà là chỉ chức năng và trạng thái của các cơ quan nội tạng trong cơ thể. Tạng phủ, kinh lạc và thất khiếu (hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng) là liên thông với nhau. Gan liên thông với mắt, bởi vậy, gan của một người mà có vấn đề thì biểu hiện ra bên ngoài là ánh mắt có vấn đề và ở phương diện đạo đức thì chính là khuyết thiếu nhân từ.
Nếu một người muốn khỏe mạnh thì nhất định phải tu dưỡng tốt tính cách của mình. Bắt đầu tu dưỡng từ đâu? Chính là bắt đầu từ việc hiếu thảo với cha mẹ. Bởi vì “trăm thiện hiếu vi tiên”. Con người một khi hiếu thảo với cha mẹ thì hỏa khí sẽ giảm dần, kinh lạc sẽ dễ dàng thông suốt. Khi kinh lạc thông suốt rồi thì bệnh tật sẽ tự động khỏi.

Nhà sinh lý học Elma giảng dạy tại đại học Stanford, Mỹ từng làm một thực nghiệm nổi tiếng. Ông thu thập khí của người tức giận, bi thương, phiền não thở ra rồi dẫn vào một cái chai có đựng một loại nước thông qua ống dẫn. Sau đó, ông phát hiện ra màu sắc của nước ở trong cái chai này có sự thay đổi. Khí của người tức giận làm cho nước chuyển thành màu tím, khí của người bi thương khiến nước chuyển thành màu xám. Về sau, ông đổ nước màu tím này lên một con chuột trắng nhỏ, sau một khoảng thời gian thì con chuột trắng này run rẩy và chết. Thực nghiệm này chứng minh rằng, thời điểm con người tức giận là thời điểm con người đang bài tiết độc tố.
“Nhân từ” dưỡng gan, người nhân từ thì gan huyết thông thuận, khí mạch tốt và đương nhiên sẽ trường thọ. Lão Tử giảng: “Con người khi mới sinh thì mềm mại, mà khi chết thì cứng ngạnh.” Bởi vậy, “nhân từ” là có sức mạnh rất lớn đến sức khỏe và tuổi thọ của một người.

“Lễ” đối ứng với tim (ngũ tạng) và hỏa (ngũ hành)

“Lễ” ứng với hỏa trong ngũ hành, với tim (tâm) trong ngũ tạng và mùa hạ trong 4 mùa. Trong “Thượng Thư” viết: “Hỏa viết viêm thượng”, ý nói, hỏa được gọi là thiêu đốt hướng lên trên. Nó đại biểu cho tính tích cực, hướng lên trên, sáng tỏ và sự tiến bộ. Lễ ứng với hỏa cho nên lễ cũng có những ý nghĩa tương ứng. Muốn biết một con người, một quốc gia có tiến bộ hay không thì lễ phép là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá. Lễ phép này chính là những phép tắc cơ bản, là trật tự trên dưới và quan hệ ngũ luân.

Trong “Hoàng Đế nội kinh” giảng: “Tâm giả, quân chủ chi quan; chủ minh tắc hạ an, chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy” nghĩa là cái tâm là có tác dụng chủ đạo, là chủ thần minh.

Tâm vốn dĩ là có trạng thái rất rộng mở và hướng lên phía trước, đây là trạng thái tự nhiên của nó. Nếu là trạng thái mất tự nhiên thì bệnh trạng chính là thù hận. Thù hận sẽ làm tổn hại trái tim. Vì sao lại nói như vậy? Đó là bởi vì tâm thù hận đều là từ bên trong mà phát ra bên ngoài. Hơn nữa, loại khí này là hướng vào bên trong mà tụ lại. Vì thế đặc biệt dễ gây ra các bệnh như tim mạch vành, hồi hộp, đánh trống ngực…

Một người mà ở vào trạng thái vui vẻ khoái hoạt thì khí mạch của họ cũng liền dễ dàng thông suốt. Điều này có thể phát hiện ra ở trẻ em, chúng suốt ngày đều là vui vẻ thoải mái.

Các nhà y học đã từng làm một cuộc thống kê và phát hiện: Trẻ em dưới ba tuổi, bình quân mỗi ngày cười 170 lần và tâm mạch của chúng hoàn toàn thông suốt, không có bệnh tật. Cổ nhân gọi đó là khí thuần dương. Người trưởng thành bình quân mỗi ngày cười bảy lần và những người có số lần cười càng ít thì thường mắc bệnh nhiều hơn.

“Nghĩa” đối ứng với phổi (ngũ tạng) và kim (ngũ hành)
Một người mà phế khí không đủ thì tức là ở phương diện “nghĩa” của người này có vấn đề. Phế thông với mũi, cho nên một khi mũi có vấn đề thì phế cũng là có vấn đề và tương ứng là “nghĩa” của người này cũng là chưa tốt.

Mặt trái của nghĩa chính là quá khích, hành vi quá khích, bất nghĩa. Nghĩa đối ứng với tinh (sự thuần chất, tinh hoa, tinh thần). Trong văn hóa truyền thống cổ đại, tinh là đại biểu cho sự thu liễm, mùa thu. Mùa thu là mùa lá rơi, là thời điểm gió thu thổi, khí của đất trời mùa thu chỉ một vẻ xơ xác. Cho nên mới nói, người có kim khí rất mạnh thì sát khí cũng rất nặng.

Cổ nhân gọi là sát khí, ngày nay có cách nói là “không giúp mà còn bỏ cát vào mắt”, ý chỉ những hành vi làm tổn thương người khác, chọc vào thiếu sót và nỗi đau của người khác. Người có loại tính cách này dễ dàng bị mắc loại bệnh về kim hành, phế kinh. Trong ngũ hành tương sinh tương khắc thì kim khắc mộc (đối ứng với gan). Cho nên, người có tính cách này cũng sẽ làm tổn thương đến gan, hơn nữa tính cách này càng nặng thì gan càng tổn thương nặng nề.

Một người mà kim khí quá cường thịnh, hơn nữa còn phát triển thêm thì đó chính là bầu không khí buồn thảm. Trong “thất tình” của Trung y nói, buồn sẽ làm tổn thương phế. Một người mà quá buồn rầu thì phế của người ấy sẽ bị tổn thương nặng nề. Cho nên, người có kim khí cường thịnh thì nên luyện tập lòng khoan dung, vui vẻ, thường xuyên mỉm cười. Vì khi con người mỉm cười thì khí của thân thể được nới lỏng, các cơ quan nội tạng được giãn ra, khoan khoái khiến thân thể khỏe mạnh.

Bi thương sẽ làm tổn thương phế, vậy cái gì có thể điều trị được bi thương? Con người thường bị vây khốn bởi cái tôi, ích kỷ, vì mình. Bời vì bị vây khốn trong ấy mà bi thương, buồn khổ. Khi một người hòa nhập với người khác, với tập thể thì họ sẽ chuyển bi thương sang từ bi. Chính là họ sẽ biết quan tâm đến những người khác vô điều kiện.

Có thể nói, hết thảy những lo lắng buồn đau của một người, rốt cuộc cũng đều là vì bản thân. Khi người ta có thể mở rộng hơn tình yêu thương của mình, đồng thời ý thức được bản thân còn có nhiều trách nhiệm khác (cái nghĩa) thì họ sẽ thoát được ra khỏi cái tôi cá nhân ấy. Khi ý nghĩ vừa mở ra, tấm lòng quảng đại hơn thì bản thân và hoàn cảnh sẽ liền có biến hóa, khí biến hóa, ngoại hình của bản thân biến hóa và sức khỏe cũng tốt lên.
Theo Tri Thức VN

Theo Đông y, nam giới chưa qua tuổi 64, thiên quý chưa hết, dương vật không cương cứng hoặc có cương mà không cứng, hoặc...
26/09/2017

Theo Đông y, nam giới chưa qua tuổi 64, thiên quý chưa hết, dương vật không cương cứng hoặc có cương mà không cứng, hoặc cứng mà không bền khiến cho không tiến hành giao hợp được, là chứng Dương nuy (y văn cổ có khi gọi là âm nuy, cân nuy, âm khí bất dụng, bất khởi…, tương đương bệnh danh liệt dương hay rối loạn cương ngày nay). Trên lâm sàng, căn cứ triệu chứng, nguyên nhân, chứng Dương nuy được Đông y điều trị theo các thể bệnh như sau:

1. Dương nuy do nguyên dương bất túc, mệnh môn hỏa suy: dương nuy, âm lãnh, kèm các chứng đau lưng, mỏi gối, tai ù, tóc rụng, răng lung lay, sợ lạnh, tay chân lạnh, thể trạng gầy yếu, hơi thở ngắn, mệt mỏi, đầu choáng mắt hoa, sắc mặt trắng nhợt, lưỡi nhớt nhuận bệu hoặc có vết răng, mạch trầm tế, bộ xích nhược.
Nguyên nhân do sắc dục thái quá, phòng thất vô độ hoặc do bẩm tạng bạc nhược, tiên thiên bất túc mà phạm vào điều cấm phòng thất, thủ dâm thái quá lúc tuổi trẻ làm tàn hại thận khí. Điều trị nên theo phép ôn bổ thận dương, dùng phương Hữu quy hoàn, Tán dục đan gia giảm.
- Hữu quy hoàn: Lộc giác giao, Thục địa, Hoài sơn, Sơn thù, Câu kỷ tử, Thỏ ty tử, Đương quy, Đỗ trọng, Phụ tử, Nhục quế (theo Cảnh Nhạc toàn thư).
- Tán dục đan: Bạch truật, Thục địa, Đương quy, Cửu tử (hạt hẹ), Đỗ trọng, Ba kích, Kỷ tử, Dâm dương hoắc, Nhục thung dung, Tiên mao, Nhục quế, Xà sàng, Sơn thù, Phụ tử (theo Y lược giải âm).
2. Dương nuy do tâm tỳ khí huyết đều hư: Nếu là tâm tỳ khí hư thì có chứng hồi hộp, thở ngắn, tự ra mồ hôi, sắc mặt vàng bủng, thể trạng gầy yếu, tinh thần mỏi mệt, ăn uống giảm sút, bụng trướng, đại tiện nhão, lưỡi nhạt, mạch tế. Nếu là tâm tỳ huyết hư có các chứng hồi hộp, sợ sệt, dễ kinh hoảng, hay mộng, mất ngủ, sắc mặt trắng nhợt, gầy còm, mỏi mệt, lưỡi nhạt, mạch tế.
Nói chung, trên lâm sàng phần nhiều thường gặp chứng tâm tỳ khí huyết đều hư do người bệnh dụng tâm thái quá, tư lự triền miên làm hao thương tâm tỳ. Điều trị nên bổ ích tâm tỳ, làm tỳ vị ở trung tiêu khí thịnh, nguồn sinh hóa hậu thiên dồi dào thì tâm huyết đầy đủ, thận khí vượng dương sự cũng mạnh lên, dùng các phương Quy tỳ thang, Đại bổ nguyên tiễn gia giảm.
- Quy tỳ thang: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Đương quy, Long nhãn, Phục thần, Toan táo nhân, Viễn chí, Chích thảo, Mộc hương (theo Phụ nhân lương phương)
- Đại bổ nguyên tiễn: Nhân sâm, Hoài sơn, Thục địa, Sơn thù, Đỗ trọng, Câu kỷ, Đương quy, Cam thảo (theo Cảnh Nhạc toàn thư).
3. Dương nuy do sợ hãi hại thận: có chứng sợ sệt không yên, hay nghi ngờ kinh hãi, tinh thần sa sút, mất ngủ hay mê, bình thường dương vật còn có thể cương cứng, nhưng khi sắp sửa giao hợp thì lo lắng không yên, dẫn đến dương nuy không cứng nữa, lưỡi và mạch bình thường. Bệnh thường phát sau sự cố sợ hãi đột ngột (Nội kinh nói “sợ làm tổn thương thận”).
Lúc bắt đầu thường không có chứng trạng thận khí bất túc, bệnh lâu ngày thì thấy xương nhức mỏi, tay chân lạnh và di tinh, phát triển thêm nữa là dương nuy. Nguyên nhân bệnh do sợ hãi mà bị, cho nên sợ sệt, hồi hộp không yên, mỗi khi nhập phòng thì nghĩ ngợi mông lung dẫn đến dương vật không cương cứng. Điều trị nên an thần định chí, dùng phương Định chí hoàn gia giảm: Đương quy thân, Thục địa, Nhân sâm, Bá tử nhân, Toan táo nhân, Bạch linh, Phục thần, Viễn chí (theo Thiên kim phương).
4. Dương nuy do thấp nhiệt dồn xuống: có chứng dương nuy kiêm cả bộ phận sinh dục ẩm ướt hoặc đau ngứa, tiểu tiện sẻn đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc dày, mạch huyền hoặc sác. Thường gặp ở người béo mập nhiều thấp, cộng thêm ăn uống nhiều món cao lương nồng hậu, hoặc nghiện rượu dẫn đến thấp nhiệt nung nấu ở trong. Điều trị nên thanh nhiệt thẩm thấp, dùng phương Long đởm tả can thang gia giảm: Long đởm, Mộc thông, Trạch tả, Sa tiền, Sinh địa, Đương quy, Sài hồ (theo Lan thất bí tàng).
🤗

🤗
17/09/2017

🤗

Bật mí 5 bài thuốc đông y bổ thận dành cho vua chúa giúp “đêm về sung sướng”Vua chúa thời xưa luôn có tam cung lục việN ...
02/09/2017

Bật mí 5 bài thuốc đông y bổ thận dành cho vua chúa giúp “đêm về sung sướng”

Vua chúa thời xưa luôn có tam cung lục việN với nghĩa vụ “ban ân mưa móc” để sinh “long chủng”. Để làm được điều này, các vua chúa đều phải bồi bổ sinh lực bằng những bài thuốc đông y bổ thận tráng dương thượng hạng.
😂
Bài viết sau sẽ chia sẻ 5 bài thuốc bổ thận tráng dương giúp tăng thời gian giao ban, thêm sung mãn mà không bị kiệt sức.

1. Bài thuốc 1

Nguyên liệu

nhân sâm 12g
long nhãn 12g
bạch truật 12g
phục thần 12 g
hoàng kỳ, đương quy, toan táo nhân mỗi thứ 16 g
mộc hương 6 g
viễn chí 6 g
cam thảo 4 g.
Cách dùng:

Các vị thuốc trên với cân lượng đúng tạo thành 1 thang thuốc đông y bổ thận tráng dương. Mỗi ngày sắc uống 1 thang. Bạn nên sắc bằng nồi đất hoặc sứ và uống nóng. Dùng liên tiếp trong 20 ngày và nghỉ 10 ngày. Sau đó lại uống tiếp 20 ngày, nghỉ 10 ngày. Uống liên tiếp như vậy trong 3 tháng.
Tác dụng:

Ngoài tăng cường bổ thận, bài thuốc này còn chống suy nhược cơ thể, bồi bổ thể trạng.

2. Bài thuốc 2

Nguyên liệu:

thục địa 16 g
sơn thù 8g
trạch tả, đan bì mỗi thứ 8 g
Mỗi thứ 12g các loại sau: hoài sơn, phục linh, kỷ tử, nhục thung dung, ngũ vị tử, trâu cổ, long nhãn.
Cách dùng:

Mỗi ngày sắc uống 1 thang. Uống liên tiếp trong 20 ngày, nghỉ 10 ngày. Thực hiện 3 liệu trình liên tiếp như vậy.

Tác dụng

Bài thuốc đông y bổ thận tráng dương này có tác dụng chứa liệt dương do có sự rối loại thần kinh chức năng.

3. Bài 3:

Nguyên liệu:

dâm dương hoắc 12 g
ba kích, sa sâm mỗi vị 16 g
thỏ ty tử ( hay còn gọi là dây tơ hồng)
nhục thung dung 12g
kỷ tử 12g
đỗ trọng, đương quy mỗi vị 8 g
cam thảo 6 g
3 quả đại táo
Cách dùng

cả nguyên liệu trên thái nhỏ, phơi khô. Sau đó ngâm với 1l rượu 35-40 độ. Thời gian ngâm càng lâu càng tốt. Uống mỗi ngày 1 chén nhỏ trong vòng 1 tuần.

Tác dụng:

Bài thuốc đông y bổ thận tráng dương này có các vị thuốc quý như: cao tỏa dương, ba kích, dâm dương hoắc, đỗ trọng, đương quy. Các vị thuốc đông y bổ thận này được phối hợp theo nguyên tắc “ quân – thần – tá – sứ” theo tỷ lệ vàng. Bài thuốc này từ xa xưa đã được các vua chúa tin dùng.

4. Bài 4:

Nguyên liệu:

Kỷ tử 120g
Đương quy 60g
Thục địa 180g
Cách dùng:

Thái nhỏ các thang thuốc trên. Sau đó ngâm với 3l rượu 35-40 độ. Ngâm càng lâu càng tốt. Mỗi ngày uống 2 lần sáng tối, mỗi lần 30 ml.

Tác dụng của bài thuốc đông y bổ thận tráng dương:

Bài thuốc trên có thục địa được xem là thần dược để chữa bệnh về huyết. Thục địa giúp bổ tinh tủy, nuôi can thận, cường tráng, sáng mắt, thính tai. Không chỉ là bài thuốc bổ thận mà còn giúp cho người hay lo nghĩ hại huyết, sinh hoạt tình dục thường xuyên hao tinh.

5. Bài 5

Nguyên liệu:

hạt hẹ 90 g
kê nội kim 45 g,
Cách dùng:

Tất cả phơi hoặc sấy khô sau đó tán thành bột mịn. Khi uống pha 3g với 1/3 rượu ngon. Ngày uống 3 lần.

25/07/2017

CÁC CHỨNG ĐAU Ở TAI, Ở MŨI
Theo Đông y, tai là khiếu (lỗ thông) của thận; kinh Túc thiếu dương Đởm và Thủ thiếu dương Tam tiêu đều gặp nhau ở tai trong, vì vậy các chứng đau ở tai có quan hệ mật thiết với các tạng kinh Thận, Đởm và Tam tiêu.
Theo Đông y, tai là khiếu (lỗ thông) của thận; kinh Túc thiếu dương Đởm và Thủ thiếu dương Tam tiêu đều gặp nhau ở tai trong, vì vậy các chứng đau ở tai có quan hệ mật thiết với các tạng kinh Thận, Đởm và Tam tiêu.

CÁC CHỨNG ĐAU Ở TAI
Sách Phùng Thị Cẩm Nang cho rằng “bệnh ở tai do 7 nhân tố gây nên là thực nhiệt, âm hư, đàm, hoả, thấp, khí bế và can phong; từ đó dẫn tới 5 chứng tai ù, tai đau, tai sưng, tai điếc, tai chảy mủ”. Nhìn chung, bệnh mới phần lớn thuộc thực chứng, bệnh lâu ngày thuộc hư chứng. Tuy nhiên, trên lâm sàng cần linh hoạt xử lý, không nên câu nệ.
Tai mọc mụn đau (Nhĩ trĩ, Nhĩ đĩnh)
Trong tai mọc ra một mụn nhỏ, hình như hạt anh đào, hư đầu vú dê, hoặc như mụn nấm, hạt táo, sờ vào đau, thậm chí đau buốt lên tận óc, hoặc thêm chảy máu, nên gọi là trĩ tai (nhĩ trĩ) hay nhĩ đỉnh. Theo Đông y, chứng này do nộ hoả kinh can, tướng hoả kinh thận, tích hoả kinh vị bốc lên, che lấp các khiếu bên trên, uất kết không tan và khí huyết ngưng tụ gây nên.
Trị liệu: Uống thang Sài hồ thanh can gia giảm: Sài hồ 5g, Hạ khô thảo 9g, Hoàng cầm 9g, Son chi tử 9g, Cúc hoa 9g, Sinh địa 12g, Xích thược 9g, Đơn bì 5g, Liên kiều 9g, Hà diệp (lá sen) 3g. Sắc uống.
Ngoài dùng Não sa tán: Não sa 3g, Khinh phấn 9g, Hùng hoàng 9g, Băng phiến 1,5g, tất cả tán bột, hoà nước, bôi lên chỗ đau.
Tai chảy mủ đau
Trong tai lở loét, chảy máu mủ, đau nhức, phần lớn do cảm thọ phong hoả thấp nhiệt, hoặc do móc ráy tai làm tổn thương ống tai gây viêm nhiễm.
Trị liệu: Trong uống Long đởm tả can thang gia giảm: Sài hồ 5g, Long đởm 5g, Ngân hoa 12g, Liên kiều 12g, Xích thược 9g, Trạch tả 9g, Sơn chi tử 12g, Hoàng cầm 9g, Mộc thông 3g, Khổ đinh trà 5g, Lá sen 3g. Sắc uống.
Trị ngoài, dùng một trong các phương sau:
- Trần bì 3g, Băng phiến 0,5g, Đăng tâm thảo 3g (đốt lấy tro), tất cả tán bột thổi vào tai.
- Xà thoát (xác Rắn) thiêu lấy tro, thổi một ít vào tai trong.
- Hẹ tươi, giã vắt nước cốt nhỏ vào tai.
Các phương trên đều rất hiệu nghiệm.
Tai sưng bít đau
Do phong nhiệt ủng tắc bên trong; tai trong; sưng, làm bít kín không thông, đau từng cơn.
Trị liệu: Lấy 1 con ốc bươu lớn cho vào cối giã, sau cho vào 0,1g Xạ hương, chờ một lúc thành nước, lấy vài giọt nhỏ vào tai, hoặc lấy1 nhân hạt gấc (Mộc miết) mài nhỏ vào tai cũng hết đau.
Tai đau do móc ráy tai
Khi tai bít tắc do đầy ráy tai, hoặc khi cắt tóc lấy ráy tai có thể làm tổn thương bên trong, nhẹ không cần điều trị, nếu đau nhiều thì dùng thuốc trị ngoài như sau:
Mật Cá trắm (Thanh ngư) 1 cái, Hồng hoa 3g, Huyền sâm 6g, Sinh địa 6g, tất cả chưng lấy nước cốt nhỏ vào
Tai đau do côn trùng chui vào
Trị liệu: Dùng Hoa tiêu, tán bột, hoà giấm, hoặc Dầu mè hoà Đồng lục (sunfat Đồng), hoặc dầu Hạnh nhân nhỏ, côn trùng chui ra sẽ hết đau.

CÁC CHỨNG ĐAU Ở MŨI
Mũi là khiếu hô hấp hậu thiên, còn gọi là phế khiếu. Các kinh dương minh vị gặp nhau ở sống mũi, chạy hai bên mũi. Vì vậy, các bệnh đau mũi lấy 2 kinh phế vị làm chủ. Các chứng đau ở mũi do ngoại nhân chủ yếu là phong hàn, phong nhiệt xâm nhập, do nội nhân, thường gặp là thấp nhiệt tích hoả, bốc lên gây đau.
Mũi đau do mọc nhọt trên sống mũi (tỵ thư)
Trên sống mũi, nhọt mọc chìm sâu, bọc cứng, màu tím tía, luôn có cảm giác đau tê dại. Chứng này do uất hoả ngưng kết ở kinh phế mà thành.
Trị liệu: Bệnh mới phát nên dùng bài Thiên kim lậu lô thang để tuyên giải tà độc. Tiếp theo dùng bài Tiên phương hoạt mệnh ẩm gia Chi tử, Mộc thông, Bạc hà, Kiết cánh để tiêu nhọt độc. Nếu sưng đau không giảm hoặc nhọt đã hoá mủ, dùng bài Thác lý thấu nùng thang điều trị.
- Thiên kim lậu lô thang: Lậu lô 10g, Chỉ xác (sao cám) 10g, Đại hoàng 12g, Sinh cam thảo 10g, Ma hoàng 6g, Hoàng cầm 10g, Bạch liễm 10g, Liên kiều 10g, Thăng ma 10g, Bạc hà 3g, Sinh khương 3g. Sắc, uống khi thuốc còn ấm.
- Tiên phương hoạt mệnh ẩm gia vị: Xuyên sơn giáp (sao phồng) 6g, Tạo giác thích 1,5g, Đương quy vĩ 5g, Cam thảo tiết 3g, Kim ngân hoa 6g, Xích thược (sao) 1,5g, Nhũ hương 1,5g, Một dược 1,5g, Thiên hoa phấn 3g, Phòng phong 2g, Bối mẫu 3g, Bạch chỉ 3g, Trần bì 5g, Chi tử 3g, Mộc thông 3g, Bạc hà 3g, Kiết cánh 3g. Sắc thang thuốc này với rượu uống.
- Thác lý thấu nùng thang: Nhân sâm 3g, Bạch truật (sao đất) 3g, Xuyên sơn giáp (sao, tán bột) 3g, Bạch chỉ 3g, Thăng ma 1,5g, Cam thảo tiết 1,5g, Đương quy 6g, Tạo giác thích 5g, Sinh hoàng kỳ 9g, Thanh bì (sao) 1,5g. Sắc 3 chén lấy 1 chén, uống trước 1 ly rượu nhỏ rồi uống thuốc đang nóng vào.
Mũi đau do nhọt mọc trong lỗ mũi (tỵ đinh)
Nhọt đinh mọc trong lỗ mũi do phế kinh hoả độc ngưng kết mà thành. Biểu hiện lỗ mũi sưng tắc, đau nhức thấu vào trong óc, nghiêm trọng hơn thì môi má đều sưng, mạch đập thực đại (mạch sức đập mạnh, sóng mạch lớn).
Trị liệu: Gấp, dùng Thiềm tô hoàn, (thuốc thành phẩm có bán ở hiệu thuốc, thành phần gồm có : Thiềm tô, Khinh phấn, Đồng lục, Khô phàn, Đởm phàn, Hàn thuỷ thạch, Nhũ hương, Một dược, Xạ hương, Châu sa, Hùng hoàng, Oa ngưu, vừa uống trong, vừa dùng ngoài, nghiền bột thổi vào lỗ mũi. Bề ngoài mũi sưng cứng thì dùng Ly cung đĩnh tử xoa bôi lên (Ly cung đĩnh tử công thức gồm Huyết kiệt, Châu sa, Đởm phàn, Kinh mặc, Thiềm tô, Xạ hương, thành phần có bán sẵn ở hiệu thuốc).
Lưu ý: Chứng này sơ phát nên trị thật nhanh, để lâu, độc khí công vào trong dẫn đến thần thái hôn mê, nôn oẹ, hậu quả khó lường.
Mũi đau do mụt lở (tỵ sang)
Do nhiệt tà ở kinh Phế công lên lỗ mũi, tụ lại, không tán mà sinh nên. Biểu hiện ban đầu: Cảm giác mũi khô táo, đau rát, kế đo sinh mụn như hạt gạo, nặng thì ngoài mũi sưng đỏ lên.
Trị liệu: Hoàng cầm thang: Hoàng cầm (sao rượu) 6g, Sinh cam thảo 1,5g, Mạch môn (bỏ lõi) 3g, Tang bạch bì 3g, Chi tử (sao rượu) 5g, Liên kiều 3g, Xích thược 3g, Kiết cánh 3g, Bạc hà 3g, Kinh giới tuệ 3g. Sắc uống sau khi ăn.
4. Mũi sưng đau nhức
Mũi từ từ sưng lên, do hoả tà ở phế thịnh gây nên. Trị liệu dùng phương Giải uất thang: Kiết cánh 10g, Mạch môn 15g, Hoàng cầm 12g, Thiên môn 12g, Cam thảo 6g, Thiên hoa phấn 12g, Tử uyển 10g, Tử tô 6g, Bách bộ 12g. Sắc uống.
(Trích dịch từ Phương đáo thống trừ NXB Cổ tịch Trung y – Bắc kinh, 1997).

Chứng tâm phế khí hư và thuốc trị Chứng tâm phế khí hư thường do nội thương mệt nhọc hoặc tâm và phế mắc bệnh kéo dài là...
27/05/2017

Chứng tâm phế khí hư và thuốc trị

Chứng tâm phế khí hư thường do nội thương mệt nhọc hoặc tâm và phế mắc bệnh kéo dài làm công năng của hai tạng tâm và phế đều suy nhược dẫn đến phế khí bất túc...
Chứng tâm phế khí hư thường do nội thương mệt nhọc hoặc tâm và phế mắc bệnh kéo dài làm công năng của hai tạng tâm và phế đều suy nhược dẫn đến phế khí bất túc, tâm khí hao tổn. Hoặc do các tạng khác mắc bệnh liên lụy đến hai tạng này mà sinh bệnh.
Biểu hiện: tâm phiền, hồi hộp, đoản hơi, ho suyễn thở gấp, lao động nhẹ thì thở suyễn tăng, sắc mặt trắng bệch, tự ra mồ hôi, dễ cảm mạo, nếu bệnh nặng thì tay chân phù thũng, môi miệng tím tái, chất lưỡi nhợt, màu lưỡi tối, mạch trầm tế mà nhược.
Phương pháp điều trị: Bổ phế dẹp suyễn ích khí dưỡng tâm.
Bài thuốc: Bổ phế thang gia giảm: nhân sâm 12g, hoàng kỳ 12g, tử uyển 8g, thục địa 16g, ngũ vị tử 4g, tang bạch bì 12g.
Cách dùng: Ngày uống 1 thang, sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn hoặc lúc đói.
Tùy chứng trạng của bệnh nhân có thể gia thêm các vị khác như sau:
Do hư lao dẫn đến tâm phế khí hư
Triệu chứng: Bệnh nhân đoản hơi, hồi hộp, tiếng nói nhỏ, mặt nhợt nhạt, tự ra mồ hôi, đêm ngủ không yên, hay mỏi mệt, sức yếu, ho thở gấp.
Điều trị: Bổ ích khí của tâm phế.
Bài thuốc: Bảo nguyên thang phối hợp với Bổ phế thang gia giảm: nhân sâm 12g, nhục quế 6g, hoàng kỳ 12g, chích thảo 4g.
Cách dùng: Ngày uống 1 thang, sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn, khi thuốc còn ấm.
Do tâm phế khí hư sinh ra chứng tự hãn (tự ra mồ hôi)
Triệu chứng: Bệnh nhân ra mồ hôi, sợ gió hoặc ra mồ hôi mà tâm hồi hộp, ngủ không yên, hay cảm mạo, rêu lưỡi trắng, mạch tế nhược.
Điều trị: Dưỡng tâm, ích khí cố biểu.
Bài thuốc: Ngọc bình phong tán phối hợp với bài quế chi cam thảo thang: hoàng kỳ 12g, phòng phong 8g, bạch truật 12g, quế chi 8g, cam thảo 4g.
Cách dùng: Ngày uống 1 thang, sắc uống 3 lần trong ngày, uống sau khi ăn.
Do tâm phế khí hư sinh quyết chứng (run tay chân)
Triệu chứng: Bệnh nhân đoản hơi, thở ngắt quãng, ra mồ hôi, tay chân lạnh, sắc mặt trắng nhợt, có khi bị ngất xỉu.
Điều trị: Ích khí cố thoát.
Bài thuốc: Tứ vị hồi dương ẩm: nhân sâm 20g, phụ tử chế 8g, bào khương 12g, cam thảo 6g.
Cách dùng: Ngày uống 1 thang, sắc uống 3 lần trong ngày, uống sau khi ăn.

01/05/2017

Tìm thầy chữa bệnh phải yiên tâm,
Người bệnh mạn tính nên kiên trì,
Bệnh tật không phải là mới bị,
Phải chữa dần đần mới khỏe thân.
Qúy bệnh nhân nào bị các bệnh mạn tính, muốn khỏi nhanh chóng trong ngày một ngày hai thì đúng là không thể nào, quý vị có đi khắp núi nam bể bắc, đông tây kim cổ thì cũng chỉ có vậy mà thôi. Bệnh tật sinh ra không phải tự dưng mà có, các vị ăn uống ngủ nghỉ không điều độ, tham lam lo nghĩ cộng thêm sắc dục bừa bãi nên mới có cái họa như ngày hôm nay. Thuốc thang cũng chỉ là để tác động, quan trọng là dựa vào bản thân các vị điều dưỡng và tích đức thôi!

kiến tâm đường xin giới thiệu cho quý bệnh nhân gần xa 1 công thức món ăn bài thuốc cho bệnh nhân cao huyết áp có bến ch...
09/04/2017

kiến tâm đường xin giới thiệu cho quý bệnh nhân gần xa 1 công thức món ăn bài thuốc cho bệnh nhân cao huyết áp có bến chứng đáy mắt có công hiệu bổ ích khí huyết điều hòa âm dương giảm áp sáng mắt.

Gà ác tiềm quyết minh - ngũ vị tử:

quyết minh tử 12g, ngũ vị tử 10g, gà ác 1 con (khoảng 1 kg), gừng 5g, hành 10g, rượu và muối vừa đủ. Quyết minh tử và ngũ vị tử vo sạch; gà ác rửa sạch; gừng đập dập, hành cột thành bó; muối và rượu rưới lên thân gà, ướp trong nửa giờ. Gừng, hành, quyết minh tử, ngũ vị tử nhét vào bụng gà, dùng que tăm khâu kín, cho vào nồi, đổ nước ngập qua thân gà, nấu sôi bằng lửa mạnh, vớt váng, rồi chuyển lửa nhỏ nấu trong 1 giờ.

Bộ huyệt khôi phục não
01/04/2017

Bộ huyệt khôi phục não

Thật khó có thể kể hết các loại rượu trường thọ đã được sách thuốc cổ ghi lại hoặc lưu truyền rộng rãi trong dân gian.Tr...
30/03/2017

Thật khó có thể kể hết các loại rượu trường thọ đã được sách thuốc cổ ghi lại hoặc lưu truyền rộng rãi trong dân gian.
Trải qua cuộc sống thực tiễn nghiệt ngã, người ta đã tìm tòi và thí nghiệm, chắt lọc và tích lũy các tri thức, các kinh nghiệm để tạo nên một hệ thống những phương pháp dưỡng sinh nhằm không ngừng nâng cao sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Rượu thuốc trường thọ là một trong vô vàn tinh hoa của kho tàng quý báu đó.
Thật khó có thể kể hết các loại rượu trường thọ đã được sách thuốc cổ ghi lại hoặc lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Trong đó có những phương rượu thuốc nổi tiếng như: Cố bản hà linh tửu, Hồi xuân bổ ích tửu, Diên thọ tửu, Trường xuân tửu, Khước lão tửu, Ích thọ tửu, Hồi xuân tửu, Thần tiên tửu, Diên linh bất lão tửu, Trường thọ tửu, Sử quốc công dược tửu...
Nhưng sự phong phú và đa dạng của rượu thuốc trường thọ đôi khi khiến người mới dùng lúng túng không biết chọn loại nào cho phù hợp. Hơn nữa, trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay nhiều loại rượu tạp tinh lẫn lộn, giả thật đan xen nên sự nhầm lẫn và thất vọng nhiều khi khó tránh khỏi.

Theo y học cổ truyền, mọi hoạt động sinh lý và diễn biến bệnh lý trong cơ thể con người đều tuân theo quy luật cân bằng giữa âm và dương. Người ta sống đến 40 tuổi thì khí âm đã hao đi một nửa, sức sống bắt đầu dần suy giảm. Đến 50 tuổi thì chân bắt đầu chậm, mắt bắt đầu mờ. Đến 60 tuổi thì thận khí đã suy yếu rõ rệt, thận tinh hao tổn, ngũ tạng hoạt động không được thông thoát nữa. Bởi thế, cổ nhân cho rằng: cơ thể muốn khỏe mạnh và trường thọ thì phải biết cách điều hòa âm dương, bồi bổ phần hư yếu. Có thể hiểu một cách đơn giản là: dương hư thì bổ dương, âm hư thì bổ âm, không thể dùng bổ âm để trị chứng dương hư cũng như không thể dùng bổ dương để trị chứng âm hư.
Thần tiên diên thọ tửu
Là một loại rượu thuốc được ghi trong sách Vạn bệnh hồi xuân do Cung đình Phu tử, bút hiệu là Vân Lâm tiên sinh soạn thảo ra. “Diên thọ” có nghĩa là sống lâu, là kéo dài tuổi thọ: “Tửu” là rượu; “Thần tiên diên thọ tửu” có nghĩa là thứ rượu có công dụng kéo dài tuổi thọ như thần tiên.
Công thức: đương quy 40g, sinh địa 40g, thục địa 40g, thiên môn 40g, mạch môn 40g, ngưu tất 40g, đỗ trọng 40g, tiểu hồi 40g, ba kích 40g, xuyên khung 40g, bá tử nhân 12g, hoàng bá 50g, bạch thược 40g, bạch linh 40g, tri mẫu 40g, phá cố chỉ 24g, sa nhân 24g, bạch truật 24g, mộc hương 12g, nhân sâm 12g, thạch xương bồ12g, kỷ tử 40g, nhục thung dung 40g, viễn chí 24g.
Cách chế: các vị thái nhỏ, cho vào trong một cái thạp sành, đổ thêm 7 lít rượu trắng, đun sôi nhỏ lửa trong ba tuần hương rồi bịt kín miệng chôn dưới đất 3 ngày đêm. Cũng có thể ngâm theo lối thông thường nhưng ít nhất phải sau 3 tháng mới được mở nút đem dùng.
Cách dùng: uống mỗi ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 30ml vào trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ tối.
Công dụng và chủ trị: loại rượu này có công dụng bồi bổ sức khỏe, kéo dài tuổi thọ nhưng thiên về bổ âm nhiều hơn nên chỉ dùng cho những người có hội chứng Âm hư hoặc Âm hư sinh nội nhiệt biểu hiện bằng các triệu chứng như thể trạng gầy yếu, tâm tính nóng nảy, hay hoa mắt chóng mặt, miệng ráo họng khô, thích uống nước mát, ngủ kém, giấc ngủ không sâu hay mê mộng, ra mồ hôi trộm, lòng bàn tay bàn chân nóng, hay có cảm giác nóng sốt về chiều, gò má đỏ, tai ù tai điếc, nam giới di tinh, tinh dịch ít và nóng, tiểu tiện lượng ít sắc vàng, đại tiện táo kết, lưỡi đỏ ít hoặc không có rêu… Những người có chứng dương hư không nên dùng loại rượu này.
Minh Mạng tửu
Đây vốn là phương thuốc do các quan ngự y của Thái y viện triều Nguyễn (1802 - 1945) lập ra để dùng cho vua Minh Mạng (1820 - 1840). Sau này được lưu truyền trong dân gian với tên gọi là “Minh Mạng thang”. Vì có công hiệu bổ thận rất cao nên được ca tụng là thứ rượu uống vào có thể “nhất dạ ngũ giao sinh ngũ tử”.
Công thức: nhân sâm 60g, tục đoạn 24g, bạch linh 36g, kỷ tử 24g, phòng phong 36g, đại hồi 24g, bạch mật 36g, nhục quế 12g, tần giao 24g, đào nhân 60g, đương quy 36g, đại táo 36g, xuyên khung 36g, độc hoạt 24g, bạch thược 36g, mộc qua 24g, thục địa 60g, thương truật 24g, đỗ trọng 24g, cam thảo 24g, khương hoạt 24g, quy bản 24g, trần bì 24g.
Cách chế: ngâm tất cả với 3 lít rượu ngon và 500g đường cát trắng. Sau 3 ngày cho thêm 1,5 lít nước sôi, ngâm thêm 7 ngày nữa thì dùng được.
Cách dùng: mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần 30ml (một chén nhỏ) vào trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ tối.
Công dụng và chủ trị: loại rượu này cũng có công dụng bồi bổ và kéo dài tuổi thọ nhưng vì thiên về bổ dương nên trái ngược với Thần tiên diên thọ tửu đã nói ở trên, chỉ dùng cho những người có hội chứng Dương hư biều hiện bằng các triệu chứng chủ yếu như: thể trạng béo trệ hoặc yếu ớt, dễ bị cảm lạnh, hay sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng bệch, mệt mỏi như mất sức, ban ngày dễ vã mồ hôi, miệng nhạt không thích uống nước lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng loãng, nam giới thì di tinh, tinh dịch lạnh và loãng, có thể bị liệt dương, xuất tinh sớm, suy giảm ham muốn tình dục… Những người có chứng âm hư không nên dùng loại rượu này.
Như vậy, có thể thấy cùng là những loại rượu có công dụng bồi bổ sức khỏe và kéo dài tuổi thọ nhưng do khác nhau về sự phối hợp chủng loại và hàm lượng các vị thuốc cũng như cách bào chế nên chỉ định dùng là hoàn toàn khác biệt. Những người có thể chất hoặc bị bệnh thuộc thể Âm hư nếu dùng lầm Minh Mạng tửu thì sẽ làm cho phần âm đã hư lại càng hư thêm, những người có thể chất Dương hư nếu dùng lầm Thần tiên diên thọ tửu thì sẽ làm cho phần dương đã nhược lại càng nhược thêm. Rốt cuộc là uống rượu để mong trường thọ mà lại thành ra đoản thọ.

Address

24 Phố Nhổn Từ Liêm Hà Nội
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when KIẾN TÂM ĐƯỜNG posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share