05/08/2026
Nirsevimab Immunization Reduces Hospitalizations for Invasive Pneumococcal Disease in Infants
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu dựa trên dân số bằng cách sử dụng dữ liệu từ Hệ thống Dữ liệu Y tế Quốc gia Pháp để đánh giá hiệu quả của tiêm chủng nirsevimab trong việc ngăn ngừa IPD ở trẻ em.
Họ bao gồm 527.971 trẻ em sinh ra ở thủ đô Pháp từ tháng 2 năm 2023 đến tháng 1 năm 2024, trong đó 119.435 (22,6%) được tiêm chủng nirsevimab trong năm đầu tiên của cuộc đời và 408.536 (77,4%) thì không.
Phân tích điểm xu hướng sử dụng xác suất nghịch đảo của trọng số điều trị (IPTW) đã được tiến hành để cân bằng sự khác biệt về các đặc điểm cơ bản; sau khi cân, độ tuổi trung bình khi đưa vào là 3 tháng đối với nhóm được tiêm chủng và 0-6 tháng đối với nhóm không được tiêm chủng, và tỷ lệ giới tính của bé trai so với bé gái là 1,04 ở cả hai nhóm.
Kết quả chính là nhập viện vì IPD trong vòng 6 tháng kể từ khi đưa vào nghiên cứu, với IPD được xác định thông qua chẩn đoán xuất viện về viêm màng não do phế cầu khuẩn, nhiễm khuẩn do phế cầu khuẩn, viêm phổi do vi khuẩn, viêm phổi kèm theo tràn dịch màng phổi, v.v.
Kết quả thứ cấp bao gồm nhập viện vì IPD trong vòng 9 tháng kể từ khi đưa vào, cũng như nhập viện trong vòng 6 tháng kể từ khi đưa vào trong các phân tích được phân tầng theo tình trạng sinh non và theo cân nặng khi sinh.
Trong 6 tháng theo dõi, tỷ lệ mắc IPD (tra trên 100.000 trẻ em) là 14,2 ở nhóm được tiêm chủng và 23,3 ở nhóm không được tiêm chủng. Sau khi điều chỉnh IPTW, tiêm chủng nirsevimab có liên quan đến tỷ lệ nhập viện thấp hơn vì IPD sau 6 tháng (tỷ lệ cược [OR], 0,64; 95% CI, 0,46-0,82).
Tiêm chủng Nirsevimab vẫn liên quan đến nguy cơ nhập viện IPD thấp hơn sau 9 tháng (OR, 0,66; 95% CI, 0,51-0,85), và mối liên hệ tương tự đã được quan sát thấy trong các phân tích nhóm nhỏ theo tuổi thai và cân nặng khi sinh. Một phân tích kết quả kiểm soát âm tính không cho thấy mối liên quan giữa tiêm chủng nirsevimab và bệnh liên cầu khuẩn nhóm B xâm lấn.
Trong số 112 trường hợp IPD xảy ra đến 6 tháng, 20 (18%) liên quan đến viêm màng não và 72 (64%) liên quan đến viêm phổi phế cầu khuẩn hoặc viêm phổi phế cầu khuẩn với tràn dịch màng phổi; 36 (32%) trường hợp phải nhập viện ICU và tất cả sáu (5%) trường hợp tử vong xảy ra ở nhóm không được tiêm chủng.
Dữ liệu huyết thanh phế cầu khuẩn có sẵn cho 41 (37%) trong số 112 trường hợp; các loại huyết thanh 24F và 15B/C là các loại huyết thanh không PCV13 phổ biến nhất có liên quan và sự phân bố huyết thanh ở cả hai nhóm.
“Nghiên cứu đoàn hệ trong thế giới thực tế này chỉ ra rằng tiêm chủng nirsevimab ở trẻ em dưới 12 tháng tuổi có liên quan đến nguy cơ mắc IPD thấp hơn trong ít nhất 9 tháng sau khi tiêm chủng. Các tác giả của nghiên cứu viết: "Nirsevimab có thể giúp giảm gánh nặng IPD ở trẻ em ngoài PCVs [vắc-xin liên hợp phế cầu khuẩn].