Cộng Đồng Healthcare

Cộng Đồng Healthcare Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Cộng Đồng Healthcare, Massage Therapist, 32 Đ. Tam Hà, Tam Phú, Thủ Đức/Toà s10. 06 Vinhomegrand park thủc đức, Ho Chi Minh City.

07/07/2026

NHIỀU QUÁI BỆNH ĐỀU DO ĐÀM THẤP GÂY RA, BÀI VIẾT NÀY SẼ LÀM SÁNG TỎ TOÀN BỘ VỀ ĐÀM THẤP
Tác giả: Đường Vân | THIÊN Y QUÁN DỊCH

Do chức năng vận hóa thủy thấp của tạng Tỳ trong cơ thể nhân thể bị suy giảm, hoặc quá trình tuần hoàn và bài tiết thủy dịch bên trong cơ thể gặp phải chướng ngại, thủy dịch sẽ không thể nhu nhuận cơ thể một cách bình thường, ngược lại còn hình thành sự tích tụ dị thường trong cơ thể, trở thành một loại sản vật bệnh lý. Sự tích tụ dị thường của thủy dịch này được Trung y gọi là "Đàm ẩm". Trong đó, bộ phận uế trọc, niêm trệ, trù hậu (đục bẩn, dính nhớt, đặc dầy) thì được gọi là "Đàm", còn bộ phận thanh hy, trừng triệt, thấu minh (trong loãng, trong suốt) thì gọi là "Ẩm".

Do đó, khái niệm "Đàm" trong Trung y không đơn thuần chỉ là thứ đàm phát sinh ở tạng Phế, có thể tống xuất ra ngoài cơ thể qua phản xạ ho và có thể nhìn thấy được bằng mắt thường như cách hiểu thông thường. "Đàm" của Trung y còn bao gồm cả các sản vật bệnh lý được sinh ra do chướng ngại chuyển hóa thủy dịch, mang đầy đủ các đặc tính uế trọc, niêm trệ và trù hậu. Ví dụ như chứng phì mập (béo phì), Trung y cũng gọi đó là "Đàm". Do loại đàm này không giống như đàm ở Phế có thể nhận biết một cách trực quan, nên Trung y gọi nó là "Vô hình chi đàm" (đàm vô hình); ngược lại, loại đàm sinh ra tại Phế, qua ho khạc bài xuất ra ngoài và có thể nhìn thấy được thì gọi là "Hữu hình chi đàm" (đàm hữu hình). Cả hai loại này cùng nhau cấu thành nên khái niệm "Đàm" tổng thể trong Trung y.

"Hữu hình chi đàm" chủ yếu tồn tại ở Phế, có thể do chính sự chướng ngại chuyển hóa thủy dịch của cơ thể sinh ra, cũng có thể do ngoại tà xâm phạm vào tạng Phế mà thành. Loại đàm này sau khi sinh ra có thể theo ho khạc thoát ra ngoài và được quan sát trực tiếp nên tương đối dễ hiểu. Chúng ta vốn dĩ đã quá quen thuộc với "Hữu hình chi đàm" vì thường xuyên tiếp xúc mỗi khi cảm mạo ho hen, nhưng liệu có bao giờ chúng ta chú ý đến một chi tiết lâm sàng: cùng là đàm khạc ra từ Phế, nhưng tính trạng của chúng lại có muôn vàn sự sai khác. Ví dụ có loại đàm sắc trắng dạng keo dính, có loại đàm sắc trắng loãng, có loại đàm sắc trắng bọt, có loại đàm sắc vàng trù hậu (đặc dầy), có loại đàm sắc xám đen, lại có loại đàm sắc vàng xanh… Tại sao cùng là đàm mà lại có nhiều trạng thái biến hóa đến vậy? Phân tích kỹ lưỡng, các tính trạng của đàm nêu trên quy nạp lại chẳng qua chỉ nằm ở sự sai khác trên hai phương diện: một là chất địa có sự phân biệt giữa trù hậu (đặc), hy bình (loãng) và bọt; hai là màu sắc có sự khác biệt giữa trắng, xám đen, vàng và vàng xanh.

1. Ý nghĩa của sự khác biệt về chất địa và màu sắc của đàm

Chúng ta hãy xem xét một hiện tượng thường nhật: đem đường hòa tan vào nước, ta thu được một loại chất lỏng không màu trong suốt. Nếu đem thứ nước đường trong suốt này đặt lên lửa gia nhiệt thì kết quả sẽ thế nào? Chúng ta có thể thấy nước đường sẽ dần trở nên trù hậu (đặc quánh), màu sắc cũng từng bước chuyển từ trong suốt sang vàng nhạt rồi vàng đậm. Từ hiện tượng này suy rộng ra đối với trạng thái đàm ở trong cơ thể: hóa ra độ trù hậu và độ đậm nhạt của màu sắc của đàm có mối quan hệ mật thiết với cái "Nhiệt" ở bên trong cơ thể. Trong cơ thể có nhiệt thì đàm sẽ vàng đặc; trong cơ thể không có nhiệt thì đàm sẽ loãng trắng. Độ vàng đặc càng cao chứng tỏ mức độ nhiệt trong cơ thể càng bộc phát mạnh mẽ.

Dựa vào lý luận này, Trung y gọi loại đàm sắc trắng mà loãng, hoặc dạng bọt, hoặc dạng keo dính là "Hàn đàm"; ngược lại, loại đàm sắc vàng trù hậu, thậm chí có màu vàng xanh là "Nhiệt đàm". Do hàn đàm và nhiệt đàm phản ánh bản chất hoàn toàn trái ngược nhau, nên phương pháp điều trị đối với chúng cũng bất đồng sâu sắc. Trị hàn đàm phải dùng pháp ôn hóa hàn đàm, các vị thuốc thường dùng bao gồm Can khương, Tế tân, Khương bán hạ, Trần bì, Bạch giới tử, Lai phục tử...; còn trị nhiệt đàm lại phải dùng pháp thanh nhiệt hóa đàm, các vị thuốc thường dùng là Triết bối mẫu, Xuyên bối mẫu, Thiên trúc hoàng, Đảm nam tinh, Qua lâu, Thiên hoa phấn...

Tuy nhiên, bất luận là hàn đàm hay nhiệt đàm, Trung y trong điều trị đều đặc biệt nghiêng về một chữ "Hóa". Vậy chữ "Hóa" ở đây có hàm nghĩa gì? Thuở xưa khi chưa có nước máy, nếu chất nước trong chum bị vẩn đục, người ta thường cho vào đó một ít phèn chua (minh phàn), chỉ lát sau nước sẽ trở nên trong vắt. Phèn chua đã đóng vai trò làm cho các chất uế trọc trong nước đục bị phân giải và trầm tích xuống, đó chính là "Hóa". Thuốc hóa đàm được Trung y sử dụng trong điều trị các chứng đàm cũng tương tự như tác dụng của "phèn chua", có thể làm cho đàm trọc bị phân giải, trầm tích, từ đó loại bỏ tận gốc các căn bệnh do đàm trọc gây ra.

Tây y đối với nhận thức về đàm thực chất cũng chia làm hai loại: một là đàm mang tính nhiễm khuẩn, như đàm do vi khuẩn, vi nấm, mycoplasma, chlamydia nhiễm trùng gây ra; hai là đàm mang tính thấm xuất, thường do tế bào niêm mạc đường hô hấp bài tiết quá nhiều dịch nhầy mà hình thành. Trong đó, việc sử dụng kháng sinh đối với đàm do nhiễm khuẩn có hiệu quả nhất định, nhưng đối với đàm do vi nấm, mycoplasma, chlamydia hay đàm tính thấm xuất thì Tây y thường không có nhiều biện pháp hữu hiệu. Vậy Trung y nhìn nhận và điều trị các chứng bệnh về "Đàm" này như thế nào?

Trung y cho rằng, các vi sinh vật như vi nấm, mycoplasma, chlamydia vốn dĩ luôn tồn tại trong không khí, ở trạng thái bình thường sẽ không gây tổn hại hay ảnh hưởng gì đến nhân thể, chỉ khi thủy thấp trong cơ thể tích tụ quá mức, hình thành nên một nội môi trường quá mức ẩm ướt, các vi sinh vật này mới có cơ hội sinh sôi, phát triển bùng phát, từ đó phá hoại sức khỏe và sinh ra các loại bệnh tật. Do đó, đối với loại bệnh cảnh này, sự "ẩm ướt" của nội môi trường cơ thể mới chính là căn nguyên đích thực. Điều này cũng giống như việc môi trường ẩm ướt vào mùa mưa khiến vi nấm sinh sôi mạnh làm đồ đạc dễ nấm mốc. Đã công nhận môi trường ẩm ướt là nguyên nhân chính khiến nấm mốc sinh sôi trong tự nhiên, lẽ nào ở cơ thể người lại khác đi?

Vậy chứng đàm do nội môi trường ẩm ướt gây ra phải điều trị như thế nào? Trong đời sống, ẩm ướt thường gắn liền với mưa dầm tăm tối, nếu bầu trời quang đãng, ánh nắng chan hòa thì tất nhiên môi trường ẩm ướt sẽ tiêu tan. Người xưa có câu "Liệt nhật đương không, âm mai tự tán" (Mặt trời chói chang trên cao, mù mịt tự tan biến) chính là theo đạo lý này. Ánh mặt trời xua tan ẩm ướt chủ yếu dựa vào nhiệt lượng của nó, vì vậy khi điều trị loại đàm này, chúng ta chỉ cần sử dụng các vị thuốc có tính năng ôn nhiệt để tạo ra hiệu ứng "mặt trời chói chang trên cao" trong cơ thể. Khi cái "âm mai" của thấp khí tan đi, căn nguyên của sự tích tụ thủy thấp trong cơ thể sẽ bị triệt hạ, môi trường sinh tồn và sinh sôi của vi nấm cùng các vi sinh vật bị cắt đứt, từ đó mang lại hiệu quả điều trị nhanh chóng đối với đàm do nhiễm vi nấm, mycoplasma, chlamydia cũng như đàm mang tính thấm xuất. Từ thời Đông Hán, Y thánh Trương Trọng Cảnh trong tác phẩm *Kim Quỹ Yếu Lược* đã đề ra nguyên tắc trị liệu cho chứng bệnh này là: "Bệnh đàm ẩm giả, đương dĩ ôn dược hòa chi" (Người bệnh đàm ẩm, nên dùng thuốc ấm để điều hòa), tầm nhìn xa trông rộng ấy đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị, khiến chúng ta không khỏi khâm phục phương pháp và tư duy khám phá bí ẩn sinh mệnh và bệnh tật của cổ nhân.

# # # 2. Vô hình chi đàm (Đàm vô hình)

Bên trên đã luận thuật về đàm hữu hình, vậy "Vô hình chi đàm" là gì và làm thế nào để chúng ta phán đoán được sự tồn tại của nó? Trung y căn cứ vào bốn tiêu chí cốt lõi sau để khẳng định trong cơ thể có đàm vô hình:

① Phì mập (Béo phì): Thuật ngữ Trung y "Phì nhân đa đàm thấp" (Người béo nhiều đàm thấp) chính là chỉ những người béo phì trong cơ thể đa phần đều tồn tại đàm vô hình, bởi vì mỡ béo mang đầy đủ đặc tính uế trọc, niêm trệ và trù hậu của "Đàm", nó do bộ phận uế trọc trong thủy thấp tích tụ bên trong cơ thể ngưng kết mà thành.
② Lưỡi rêu dày bết (Thiệt đài hậu nị): Lớp rêu lưỡi dày và bết dính là biểu hiện trực quan rõ ràng nhất của tình trạng thủy thấp uế trọc quá thịnh ở nội tại.
③ Khối u cục (Thũng khối): Phàm các khối u cục có sắc da không đỏ, gồ lên mặt da, dạng nốt kết, ấn vào thấy mềm hoặc dai, bên trong chứa thủy dịch, niêm dịch hoặc chất như keo dính, trong Trung y đều được gọi chung là "Đàm khối" (khối đàm).
④ Mạch hoạt (Hoạt mạch): Trung y dựa trên cảm giác khác nhau của mạch tượng dưới ngón tay để chia làm hơn hai mươi loại mạch, mạch hoạt là một trong số đó. Trung y mô tả mạch hoạt là "Vãng lai lưu lợi, như châu tẩu bàn" (Mạch đi lại trơn tru lưu loát, như hạt châu lăn trên đĩa), tức là khi bắt mạch ta cảm giác được mạch tượng lưu lợi, nhanh chóng như những viên ngọc tròn đang lăn trên chiếc đĩa nhẵn bóng. Sự xuất hiện của mạch hoạt là một trong những biểu hiện đặc trưng của đàm trọc nội thịnh, và cũng là một trong những căn cứ chẩn đoán "Đàm" chủ chốt của Trung y.

Dựa trên nhận thức của Trung y về đàm, kết hợp với các kỹ thuật kiểm tra vi quan của Tây y, chúng ta có thể cụ thể hóa và trực quan hóa hơn nữa khái niệm "Vô hình chi đàm". Chẳng hạn như các chứng bệnh trong Tây y như cao mỡ máu (tăng lipid máu), nang sưng (nang hoạt mạc), lao hạch bạch huyết, lao xương… các căn bệnh này đều mang đặc tính uế trọc, niêm trệ, trù hậu, do đó hoàn toàn có thể quy nạp chúng vào nhóm bệnh do đàm gây ra. Bằng cách này, các xét nghiệm của Tây y đã trở thành cánh tay nối dài cho các phương pháp Vọng, Văn, Vấn, Thiết của Trung y. Thông qua cơ chế phát sinh đàm của Trung y, chúng ta có thể liên hệ sự xuất hiện của các căn bệnh này với trạng thái cân bằng tổng thể của cơ thể, từ đó tìm ra giải pháp điều trị tận gốc. Ví dụ như chứng cao mỡ máu, nang sưng, lao hạch, các bệnh này đều phù hợp với đặc tính của đàm trong Trung y, nguyên nhân căn bản của chúng tất nhiên đều liên quan đến việc Tỳ mất chức năng vận hóa, thủy thấp đàm trọc tích tụ quá mức trong cơ thể, cho nên có thể dùng phương pháp kiện tỳ trợ vận, hóa đàm nhuyễn kiên để điều trị. Và một khi đã ngăn chặn được sự sinh thành của "Đàm" từ gốc rễ, hiệu quả trị liệu sẽ duy trì được lâu dài.

Để minh chứng, tôi xin dẫn ra hai bệnh án lâm sàng cụ thể. Bệnh án thứ nhất là một bệnh nhân mắc chứng tăng lipid máu, đã dùng các thuốc như Simvastatin , Fenofibrate nhưng không thấy hiệu quả rõ rệt, tự cảm thấy đầu váng sức yếu, tinh thần oải mệt, ăn uống không ngon, ban ngày hay buồn ngủ, ban đêm mộng mị nhiều, tâm hoảng tâm quý (tim hồi hộp, đập nhanh), đại tiện thường xuyên lỏng nát không thành hình, sắc mặt kém nhuận, rêu lưỡi đạm bạch, mạch hai tay đều tế vi vô lực. Tôi chẩn đoán đây là chứng Tỳ hư bất năng vận hóa thủy thấp, dẫn đến đàm trọc nội tụ, lưu trệ vào trong huyết mạch, làm ảnh hưởng đến sự vận hành của khí huyết mà sinh bệnh. Tôi kê cho bệnh nhân 7 thang thuốc Trung dược có tác dụng kiện tỳ hóa đàm bao gồm: Sao Bạch truật 30g, Đảng sâm 15g, Trần bì 10g, Bán hạ 10g, Cam thảo 6g, Phục linh 15g, Quất lạc 6g, Đảm nam tinh 10g, Tiêu Sơn tra 15g, Sinh khương 5 lát. Bệnh nhân sau khi uống hết 7 thang thuốc thì tự cảm thấy tinh thần và sức ăn tiến triển rõ rệt, chứng đầu váng giảm được hơn một nửa, đại tiện cơ bản đã thành hình, vì vậy tôi cho bệnh nhân dùng tiếp 7 thang theo phương cũ. Đến khi tái khám, các triệu chứng lâm sàng đã không còn rõ rệt nữa, tiến hành xét nghiệm lại chỉ số mỡ máu thì kết quả đã hoàn toàn khôi phục về phạm vi bình thường.

Bệnh án thứ hai là một bệnh nhân bị nang vùng khoeo chân (nang Baker) vì sợ phẫu thuật nên đã đến chỗ tôi cầu chẩn. Trung y cho rằng, sự hình thành của nang sưng bản chất là kết quả của đàm trọc nội tụ lại tại một vị trí cục bộ, mà sự phát sinh của đàm trọc lại có quan hệ trực tiếp với công năng vận hóa thủy thấp của tỳ vị, vì vậy thông qua việc cải thiện và tăng cường năng lực vận hóa thủy thấp của Tỳ hoàn toàn có thể loại bỏ sự tích tụ đàm trọc trong cơ thể, từ đó làm tiêu tan nang sưng. Dựa trên tư duy biện chứng này, tôi lập cho bệnh nhân một phương thuốc kiện tỳ hóa đàm, lợi thấp tiêu thũng: Sao Bạch truật 45g, Trạch tả 15g, Hoạt thạch 15g, Trư linh 10g, Phục linh 15g, Quế chi 10g, Bán hạ 20g, Chế Nam tinh 10g, Ý dĩ nhân 30g, Thanh bì 10g. Phương thuốc này được bệnh nhân kiên trì uống liên tục trong khoảng một tháng, khối nang vùng khoeo chân đã tiêu lặn hoàn toàn, trong quá trình dùng thuốc có sự gia giảm nhẹ vị thuốc theo sự biến đổi của triệu chứng nhưng cơ bản vẫn lấy các vị thuốc nêu trên làm chủ phương. Qua hai ví dụ này, không khó để nhận thấy lý luận về Đàm của Trung y hoàn toàn kinh qua được sự thử thách mang tính sát sườn của thực tiễn lâm sàng.

Khi Tỳ vận hóa thủy thấp bất túc sẽ dẫn đến thủy thấp tích tụ nội tại, các chất uế trọc trong thủy thấp có thể ngưng kết tại một bộ phận nào đó của cơ thể tạo thành đàm khối, giống như các chứng nang sưng, lao hạch, lao xương đã luận thuật ở trên; chúng cũng có thể xâm nhập vào kinh lạc huyết mạch, nương theo sự vận hành của khí huyết mà đi khắp toàn thân, như chứng mỡ máu đã đề cập. Những chất uế trọc này mang đặc tính niêm trệ, vì vậy thường dẫn đến khí huyết vận hành trong kinh lạc, mạch máu bị trở lực, khiến các tạng phủ tổ chức rơi vào trạng thái bệnh lý thiếu máu, thiếu oxy mà sinh ra đủ loại bệnh tật. Ví dụ như đàm kết tại vùng đầu, ảnh hưởng đến huyết dịch cung cấp cho não bộ thì sẽ xuất hiện các chứng đầu váng, kiện vong (hay quên), thị thấu (buồn ngủ), thậm chí là hôn mê, bán thân bất toại, ngôn ngữ bất lợi... chứng nhồi máu não của Tây y đa phần thuộc phạm trù do đàm gây ra trong Trung y. Đàm lưu trú tại kinh lạc tứ chi sẽ dẫn đến chướng ngại cung cấp huyết dịch cho chân tay, từ đó xuất hiện triệu chứng tứ chi tê bì, thủ túc nghịch lãnh (tay chân lạnh buốt); đàm kết tại huyết mạch sẽ dẫn đến tâm tạng tự thân cung ứng huyết dịch bất túc, sinh ra các chứng tâm quý tâm hoảng, tâm luật thất thường (loạn nhịp tim), tâm hung bế thống (đau thắt ngực)... chứng bệnh mạch vành của Tây y trong rất nhiều trường hợp cũng có mối quan hệ mật thiết với đàm.

Ngoài ra, đàm còn có thể ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần của con người. Nếu thứ khí uế trọc của đàm thấp ngăn trở các hoạt động tư duy tinh thần bình thường của nhân thể, sẽ khiến con người xuất hiện các trạng thái như nói lảm nhảm không ngừng, u uất trầm uất, buồn bã vô cớ... tức là các bệnh lý tâm thần thể ức chế (trầm cảm). Do Trung y cho rằng "Tâm" là vị chúa tể chủ quản thần chí, nên loại loạn thần do đàm trọc quá thịnh này được Trung y gọi là chứng "Đàm mê tâm khiếu" (đàm che lấp tâm khiếu).

3. Tính du tẩu của đàm

Bàn về tính du tẩu (di chuyển) của đàm, đại y gia đời nhà Nguyên là Chu Đan Khê từng khẳng định: "Đàm chi vi vật, tùy khí thăng giáng, vô xứ bất đáo" (Đàm là thứ vật chất nương theo khí mà lên xuống, không nơi nào là không đến được). Cũng chính vì đặc tính "không nơi nào không đến được" này của đàm mà Trung y đối với rất nhiều quái bệnh hoặc các chứng bệnh dùng nhiều phương pháp điều trị nhưng hiệu quả bất điểu đều quy trách nhiệm cho "Đàm". Do đó trong giới Trung y lưu truyền câu nói "Quái bệnh đa do đàm sinh" (Bệnh kỳ quái đa phần do đàm sinh ra). Chu Đan Khê cũng đề xuất học thuyết "Bách bệnh trung đa kiêm hữu đàm" (Trong trăm bệnh đa phần đều kiêm có đàm), điều này đã mở ra một tư duy hoàn toàn mới cho việc chẩn trị lâm sàng. Một số bệnh tuy biện chứng chính xác, dùng thuốc đúng bệnh nhưng hiệu quả lâm sàng lại không lý tưởng, lúc này chúng ta thử cân nhắc phối hợp thêm phương pháp hóa đàm, rất nhiều khi có thể gặt hái được những hiệu quả kinh ngạc ngoài dự kiến.

Tôi từng trị liệu cho một bệnh nhân mắc chứng huyễn vựng (chóng mặt), bệnh tình đã kéo dài hơn một năm trời, mỗi khi ngồi xổm hoặc ngồi lâu mà đột ngột đứng dậy thì hai mắt tối sầm, thậm chí ngất lịm. Thường ngày cả ngày đều cảm thấy đầu óc váng vất âm u, tinh thần oải mệt, tiếng nói thấp nhỏ, sắc mặt nhợt nhạt không chút thần sắc, ăn uống bình thường, đại tiểu tiện không có gì đặc biệt, lưỡi đạm hồng rêu mỏng trắng, mạch hai tay đều tế nhược vô lực. Gần một tháng trở lại đây, chứng váng đầu có xu hướng tăng nặng. Tây y chẩn đoán: não bộ cung huyết bất túc. Khi đó tôi nghĩ, đây chẳng phải là chứng Trung khí hạ hãm điển hình sao? Khí hư hạ hãm dẫn đến khí huyết không thể thăng thanh để nhu dưỡng vùng đầu, bệnh này trị đâu có khó? Thế là tôi kê cho bệnh nhân 5 thang Bổ Trung Ích Khí Thang, lúc kê đơn xong còn tràn đầy tự tin bảo với bệnh nhân rằng uống hết 5 thang này nhất định sẽ chuyển biến rõ rệt.

Thế nhưng 5 ngày sau bệnh nhân đến tái khám đã dội ngay cho tôi một gáo nước lạnh, ông ấy bảo chứng chóng mặt không hề có chút thuyên giảm nào! Đồng thời ông ấy cũng an ủi tôi rằng có thể do bệnh lâu ngày nên chưa thể bớt nhanh thế được. Tôi tỉ mỉ vấn chẩn lại tình trạng của bệnh nhân, kết luận rút ra vẫn là khí hư hạ hãm. Đã phản tỉnh rằng biện chứng không có sai sót, tại sao lại vô hiệu? Lúc này tôi chợt nhớ đến câu nói "Bách bệnh trung đa kiêm hữu đàm" của Chu Đan Khê, đầu óc bỗng chốc sáng tỏ, mọi nghi đoàn đều được hóa giải. Đã là khí hư thì tất yếu dẫn đến thủy thấp vận hóa thất thường, đàm trọc nội sinh, đàm trọc cản trở ở vùng não mà phát thành huyễn vựng. Việc điều trị vô hiệu trước đó là do mới chỉ cố chấp nhìn vào khí hư mà quên mất sự tồn tại của đàm trọc trong kinh lạc huyết mạch. Vì vậy tôi lập lại cho bệnh nhân một phương thuốc bổ khí hóa đàm: Hoàng kỳ 15g, Đảng sâm 15g, Sao Bạch truật 12g, Khương Bán hạ 10g, Phục linh 10g, Trần bì 6g, Xuyên khung 10g, Thăng ma 3g, Sài hồ 3g, Cát cánh 6g, Quất lạc 6g, Chế Nam tinh 6g. Tiếp tục uống 5 thang. Năm ngày sau bệnh nhân hân hoan quay lại nói: "Thang thuốc lần này thực sự linh nghiệm, mới uống 5 ngày mà đầu tôi đã cơ bản hết váng rồi". Về sau tôi cho bệnh nhân dùng Hương Sa Lục Quân Hoàn để củng cố, uống khoảng một tháng, theo dõi sau một năm chứng huyễn vựng hoàn toàn không tái phát.

4. Quái bệnh Hội chứng Meniere cũng do đàm thấp gây ra

Ở đây, tôi muốn đề cập đến Hội chứng Meniere (trước đây còn gọi là bệnh Meniere). Đặc trưng lâm sàng của căn bệnh này là: váng đầu bộc phát theo cơn, rất dễ tái phát thường xuyên, khi phát tác bệnh nhân cảm thấy trời đất cuồng quay, bốn bề chuyển động như ngồi trên tàu xe lắc lư không định, thường kèm theo ác tâm (buồn nôn), nôn mửa, đầu váng đau, cử động sẽ làm cho mức độ váng đầu nôn mửa trầm trọng hơn. Do đó khi phát bệnh, người bệnh đa phần phải nằm yên nhắm mắt, không dám cử động, có người cảm thấy trong tai có cảm giác bít tắc và áp lực, hoặc kèm theo chứng rung giật nhãn cầu. Tây y cho rằng bệnh này do dịch bạch huyết tai trong tăng lên, áp lực tăng cao dẫn đến chứng huyễn vựng có nguồn gốc từ tai.

Tôi căn cứ vào ghi chép về chứng "Mạo huyễn" trong tác phẩm *Kim Quỹ Yêu Lược* của Trương Trọng Cảnh ("Mạo" có nghĩa là buồn nôn mửa, mạo huyễn tức là chỉ một loại bệnh cảnh khi phát tác có sự xuất hiện đồng thời của huyễn vựng và ác tâm, nôn mửa; Trương Trọng Cảnh cho rằng đây là do "tâm hạ hữu chi ẩm" - tức ẩm tà ngưng đọng ở vùng dưới tâm gây ra, điều này cực kỳ tương đồng với Hội chứng Meniere) kết hợp với nhận thức của y học hiện đại đối với Hội chứng Meniere, nhận định căn bệnh này là do thủy ẩm đình lưu tại vùng tai trong mà sản sinh, và đã áp dụng phương thuốc "Trạch Tả Thang" trong Kim Quỹ Yêu Lược để điều trị, đạt được hiệu quả lâm sàng vô cùng mỹ mãn. Thành phần của Trạch Tả Thang vỏn vẹn chỉ có hai vị thuốc là Trạch tả và Bạch truật. Vị thuốc Trạch tả, sách Thần Nông Bản Thảo Kinh ghi chép công hiệu của nó là "chủ phong hàn thấp tý, tiêu thủy"; vị thuốc Bạch truật, sách Danh Y Biệt Lục của y gia thời Tấn là Đào Hoằng Cảnh chép là "tiêu đàm thủy, trục bì gian phong thủy kết thũng", đồng thời khẳng định nó có thể "noãn vị tiêu cốc" (làm ấm vị, tiêu hóa thức ăn). Hai vị thuốc này tổ hợp cùng nhau, Trạch tả thông lợi tiểu tiện, tả thủy ẩm trong cơ thể làm chủ; Bạch truật kiện tỳ tiêu đàm thủy làm phó. Phương thuốc vừa có thể khứ trừ sự tích tụ thủy ẩm ở phần Tiêu (ngọn), lại vừa có thể triệt tiêu cái gốc sinh đàm ẩm do tỳ hư ở phần Bản (gốc), cho nên dược vị tuy ít mà đạt hiệu quả thần tốc.

Tôi từng điều trị cho một nữ bệnh nhân họ Hạ, 43 tuổi, mắc hội chứng Meniere đã hơn 3 năm, lần này do lao lực quá độ mà khởi phát bệnh. Tự cảm thấy thiên toàn địa chuyển (trời xoay đất chuyển), buồn nôn nôn mửa, không thể ăn uống, nước vào liền nôn ra ngay. Nhắm mắt nằm yên trên giường thì đỡ một chút, hễ cử động một xíu là bệnh trạng lại tăng kịch liệt như trước. Đầu não trầm nặng, tiếng nói nhỏ yếu, ngay trong quá trình thăm khám đã chạy ra cửa nôn mửa hai lần, chất nôn ra là nước trong, tự thuật đã một ngày không ăn hạt cơm nào nhưng trong lòng lúc nào cũng nôn nao trực nôn, lưỡi đạm rêu bạch nị (trắng bết), mạch tượng huyền. Tôi dựa theo tư duy "ẩm đình tai trong", lập tức cho dùng Trạch Tả Thang: Trạch tả 30g, Sao Bạch truật 45g. Dùng một bát rưỡi nước, sắc đặc lấy nửa bát, uống ấm. Đồng thời dặn dò bệnh nhân khi uống thuốc tuyệt đối không được hớp một hơi hết ngay, hãy uống trước một hớp nhỏ, đợi khoảng 5 phút nếu không thấy khó chịu thì uống tiếp hớp nữa, cứ từ từ như vậy mà uống hết nửa bát thuốc. Bệnh nhân uống xong quả nhiên không bị nôn ngược trở ra, dần dần đi vào giấc ngủ sâu cho đến tận sáng ngày hôm sau mới tỉnh. Khi tỉnh dậy cảm giác bệnh tật tiêu tan như chưa từng có, sau đó dùng thuốc kiện tỳ hóa thấp điều trị điều lý thêm hai ngày, cơ thể khang phục hoàn toàn và cho đến nay chưa thấy tái phát.

BÀI TỰ KIỂM TRA THỂ CHẤT ĐÀM THẤP

1. Đầu huyễn, đầu thống, đầu trọng (Chóng mặt, đau đầu, nặng đầu): Trung y cho rằng, đầu là phủ thanh hư, nơi nguyên thần cư ngụ, cần khí huyết tinh tủy đến nhu dưỡng, không dung nạp trọc tà can nhiễu. Nếu đàm thấp xông lên nghịch loạn, quấy nhiễu vùng thanh không thì sẽ gây đầu váng, đau đầu mà trầm悶 nặng nề. Triệu chứng đau đầu, chóng mặt, đầu đau nặng thuộc thể thực chứng này thường gặp nhiều ở bệnh tăng huyết áp. Tây y cho rằng huyết áp cao là do co thắt mạch máu não, hoặc mạch máu xơ cứng mất đi tính đàn hồi dẫn đến vận hành huyết dịch bị cản trở, áp lực tăng cao. Đứng từ góc độ Trung y, đàm thấp chi tà là thứ trọng trọc hữu hình, cộng thêm đặc điểm phát bệnh "đàm chi vi hoạn, tùy khí thăng giáng, vô xứ bất đáo", do đó đàm thấp nghịch lên xông vào vùng đầu làm ngăn trở thanh dương, xích và bế trở ở cả trong lẫn ngoài mạch máu, cũng có thể dẫn đến co thắt mạch máu, mất tính đàn hồi khiến huyết áp tăng cao. Thế nên với bệnh nhân cao huyết áp, phàm là người có các chứng trạng thuộc thể đàm thấp xông lên che lấp thanh dương vùng đầu, nếu áp dụng phép thanh hóa đàm thấp để luận trị thì hiệu quả thu được vô cùng hiển hách. Triệu chứng đầu váng, đầu thống, đầu trọng do đàm thấp xông lên gây ra hoặc là kéo dài dai dẳng không dứt hoặc là lúc đỡ lúc phát, nhưng về bản chất hoàn toàn khác biệt với chứng trạng do khí huyết hư tổn, nếu lầm dùng các thuốc bổ ích thì không những vô hiệu mà ngược lại còn làm bệnh nặng thêm, ấy là phạm vào cái răn "thực thực" (làm nặng thêm cái vốn đã thực) vậy. Nếu ngoan đàm tử huyết tụ kết không tan thì còn có thể ngưng kết tạo thành khối u, bàn cứ tại não bộ hoặc các vị trí cục bộ khác của cơ thể, nếu không dùng phép hóa tán sưu thích ngoan đàm tử huyết thì hiểm họa u bướu không thể tiêu trừ.
2. Ẩu ác hoặc ẩu thổ đàm diên (Buồn nôn hoặc nôn ra đàm giãi), hoặc trong vị tràng có tiếng nước kêu lọc sọc, hoặc miệng dính, miệng bết, miệng khô không muốn uống nước: Đàm thấp chi tà lưu phục tại vị tràng, khiến Vị mất chức năng hòa giáng, phủ khí bị bế trở, cho nên thường xuyên phát sinh buồn nôn hoặc nôn ra đàm giãi, hoặc trong dạ dày ruột nghe tiếng nước kêu lọc sọc. Đàm ẩm nghịch lên trên nên thường thấy trong miệng nhớt bết. Đàm trọc vốn do tân dịch hóa thành, nhưng nó lại quay ngược lại ngăn trở sự vận hành của tân dịch, thế nên có lúc lại thấy miệng khô, nếu uống nước quá nhiều sẽ chỉ làm tăng thêm ẩm tà, khiến nước vào liền buồn nôn mửa. Các triệu chứng trên lâm sàng thường được chẩn đoán là chứng loạn thần kinh chức năng dạ dày, ruột, vì vậy uống thuốc thường không hiệu quả, nếu chuyển sang phép ôn hóa đàm ẩm để trị, hoặc kiêm chủ phép sơ gan vận tỳ thì hiệu quả đạt được cực kỳ nhanh chóng.
3. Trong hầu họng như có vật vướng mắc, nuốt không xuống khạc không ra, lúc tiêu lúc hiện (Chứng Mai hạch khí): Sự phát sinh của chứng trạng này nói chung bắt đầu từ can khí uất kết, tình chí thất hòa, từ đó dẫn đến can uất tỳ hãm. Can tỳ bất hòa, tỳ khí cũng theo đó mà bị ức chế, vận hóa thất ty, tân dịch tụ lại thành đàm, nương theo khí nghịch lên trên, bế trở tại hầu họng. Thế nên hầu họng như có vật vướng mắc, nuốt khạc đều bất lợi. Đàm làm bệnh có đặc điểm lúc tụ lúc tán, lại do chứng này khởi nguồn từ can khí uất kết, tiếp theo là tỳ vận thất kiện mà đàm tụ, cho nên chứng hầu họng vướng vật này cũng tùy thuộc vào trạng thái tình chí uất ức hay vui vẻ của người bệnh mà biểu hiện lúc hiện lúc biến mất. Loại triệu chứng này đa phần gặp ở bệnh nhân nữ giới. Nếu bệnh tình kinh cửu không khỏi, nhân bệnh sinh hư, có thể hình thành chứng âm hư hiệp đàm. Nếu chỉ chuyên sự hóa đàm tiêu tán thì âm tân càng thêm hao tổn, chứng hầu họng tắc nghẽn khô rát tất sẽ càng thêm nghiêm trọng. Bắt buộc phải đồng thời phối ngũ đầy đủ các phẩm vị tư dưỡng âm dịch để lấy tư dưỡng làm chủ, ngụ nuôi dưỡng trong tiêu tán, có như vậy chứng đàm khí bế trở mới có thể khỏi dứt điểm mà không tái phát.
4. Dễ kinh quý (hay giật mình, hồi hộp), mất ngủ khó ngủ, hoặc hôn quyết, trừu súc (co giật), hoặc thần chí thất thường, nhưng kiểm tra chuyên khoa thần kinh không phát hiện dị thường, cũng không có các chứng trạng âm hư dương kháng làm bằng cứ: "Đàm khí phạm tâm", "Đàm mê tâm khiếu" chính là chỉ các loại bệnh chứng này. Trung y nói về "Tâm" cũng là chỉ công năng của não bộ, như các luận điểm "Tâm chủ thần minh", "Não vi nguyên thần chi phủ", "Linh cơ luận tính tại ư não" vân vân chính là vậy. Cho nên đàm khí phạm tâm, đàm mê tâm khiếu thường biểu hiện ra bằng các bệnh biến rối loạn chức năng vỏ não. Loại bệnh chứng này nếu trị bằng phép địch đàm khai khiếu thường có thể thu được hiệu quả thỏa đáng.
5. Đại tiện dính quánh kèm đàm diên (nhầy giãi), hoặc đại tiện bí kết không thông sướng: Đàm trọc lưu phục ở vị tràng, nương theo phân đi xuống thì đại tiện dính quánh kèm đàm diên, trị bằng phép kiện tỳ hóa đàm tất sẽ thu được hiệu quả. Nếu đàm trọc lưu phục trong tràng làm ngăn trở phủ khí thì đại tiện ngược lại sẽ bí kết không thông (nhưng phân lại không hề khô kết), chứng này càng dùng thuốc nhuận hạ thông tiện thì lại càng bí kết, nếu đầu vị bằng các tác phẩm hành khí hóa đàm tuyên phế thì đại tiện sẽ lập tức thông suốt nhanh chóng.
6. Đê nhiệt thân khốn (sốt nhẹ mình mẩy mệt mỏi), hoặc tự giác thân nhiệt bất dương (thân nhiệt âm u không bốc ra ngoài), thể ôn không tăng cao rõ rệt: Đàm là âm tà, đặc tính niêm trệ và dễ ẩn phục vào trong. Đàm trọc nấp ở bên trong sẽ ngăn trở dương khí, dương khí không thể phát triển, hình thành trạng thái âm không phối dương, âm dương uất mà phát sốt. Chứng phát sốt do đàm trọc bế dương này hoàn toàn bất đồng với chứng ngoại cảm lục dâm chi khí hóa hỏa, lại càng khác biệt với các chứng trạng của huyết hư, âm hư, khí hư, đặc điểm của nó là mình mẩy khốn trọng mà nhiệt bất dương. Trên lâm sàng có không ít chứng sốt nhẹ rõ nguyên nhân, nếu không thấy các thể trạng của âm hư, khí hư thì đích thị thuộc về loại này. Nếu vọng đầu các phương thuốc tư âm bổ khí thì càng làm trợ đàm luyến tà, khiến chứng sốt nhẹ mình mỏi dai dẳng triền miên không dứt. Nếu có thể tường tra thiệt mạch, thẩm định chân đế bệnh tật, lấy hóa tán đàm thấp làm chủ thì có thể thu được hiệu quả mỹ mãn.
7. Chi thể cục bộ phát nhiệt hoặc phát lương (hoặc vùng lưng lạnh buốt như bàn tay, hoặc tê dại không biết đau ngứa, hoặc một vài vị trí cục bộ trên chi thể có kích thước thô tế, cảm giác không giống nhau), nhưng kiểm tra chuyên khoa thần kinh, ngoại chấn thương xương khớp, da liễu đều không phát hiện bệnh biến: "Đàm tùy khí hành, vô xứ bất đáo", "Sở (kiêm) cảm bất đồng, bệnh biến bách đoan", đàm trọc lưu phục ngăn trở khiến sự vận hành của doanh vệ khí huyết tại cục bộ bị tắc nghẽn, cho nên mới có các sự biến đổi của những chứng trạng nêu trên. Nếu đàm trọc tụ kết không tán thì tại nơi hoạn bệnh còn có thể xuất hiện thũng chướng hoặc kết tiết (sưng nề hoặc nốt cục).
8. Loét sần, nứt rạn, chảy nước thấm dịch hoặc rỉ chảy đàm dịch dính quánh, lâu ngày không thu miệng, cũng có trường hợp da cục bộ dầy lên b**g vảy mà không chảy nước rỉ dịch: Đàm thấp lưu phục, hoặc nhiệt đàm ngưng tụ làm ảnh hưởng đến sự vận hành của khí huyết cục bộ, hữu hình chi đàm trọc bài tiết ra ngoài nên rỉ nước thấm dịch không dứt, thậm chí loét nát chảy đàm. Chứng này lâu ngày không khỏi, chính khí suy tồi, cộng thêm tấu lý nơi hoạn bệnh mở toang, thường xuyên chịu sự xâm thử của phong hàn tà nhiệt từ bên ngoài kinh qua, doanh vệ khí huyết khó lòng khôi phục bình thường, thế nên nơi tổn thương lâu ngày không thu miệng. Đây là do ban đầu từ đàm trọc ngưng tụ, tiếp theo dẫn đến khí âm khuy tổn, kiêm hiệp ngoan đàm bất hóa. Nếu da nơi hoạn bệnh dầy lên b**g vảy là do khí âm khuy tổn, doanh vệ thất hòa, kiêm có ngoan đàm ngưng tụ.
9. Hung muộn bế khí (ngực đầy tức ngột ngạt), vùng lưng chướng tức, thích thở dài, thích đấm bóp. Gặp những ngày trời âm u mưa dầm hoặc khi thời tiết nóng lạnh giao hòa đột ngột thì triệu chứng trên càng biểu hiện rõ rệt: Đàm ẩm đình phục ở trong ngực, dương khí trong lồng ngực bị cản trở (bao gồm cả Phế khí mất chức năng túc giáng), khí hướng vận hành không thông suốt cho nên thường xuyên cảm thấy ngực đầy tức ngột ngạt. Nếu đàm trọc đình phục ở vùng lưng, dương khí vùng lưng vận hành bất lợi thì vùng lưng sẽ chướng tức hoặc phát lương. Thở dài và đấm bóp làm cho khí cơ tạm thời được thư triển, thế nên người bệnh thường phải thở dài một tiếng thật to hoặc đấm bóp vài cái mới thấy dễ chịu. Nếu đàm trọc bế trở quá thịnh, khiến dương khí trong ngực hoàn toàn bị bế tắc không thông thì còn có thể dẫn đến tình trạng vận hành khí huyết trì trệ mang tính nhất thời, bất thông tắc thống, vùng trước tim xuất hiện cơn đau bóp nghẹt như ép chặt, phát sinh chứng tâm cơ ngạnh tắc cấp tính (nhồi máu cơ tim cấp) nghiêm trọng.
10. Khối u cục, nốt kết, hoặc kết lại ở dưới da, hoặc ngưng tụ ở trong bụng, cũng có thể phát sinh ở trong các tổ chức cơ quan khác, bề mặt da không có sự biến đổi sắc màu, hoặc có cảm giác hơi đau nhức lạnh lẽo, hoặc sắc da tối u ám.

Address

32 Đ. Tam Hà, Tam Phú, Thủ Đức/Toà S10. 06 Vinhomegrand Park Thủc đức
Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 09:00 - 20:00
Tuesday 09:00 - 20:00
Wednesday 09:00 - 20:00
Thursday 09:00 - 20:00
Friday 09:00 - 20:00
Saturday 09:00 - 19:00
Sunday 09:00 - 17:00

Telephone

+84933839059

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cộng Đồng Healthcare posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Cộng Đồng Healthcare:

Shortcuts

Share