BS Tô Mỹ Anh - CK Sản Phụ Khoa

BS Tô Mỹ Anh - CK Sản Phụ Khoa Bác sĩ CKI Sản Phụ khoa - BV Mỹ Đức/ Trung tâm IVF Quốc Ánh
Tốt nghiệp Đại học và Sau đại học tại Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh (UMP)

❤️ Bệnh cơ tim phì đại (Hypertrophic cardiomyopathy - HCM) là bệnh cơ tim do di truyền phổ biến nhất, có thể khởi phát ở...
11/08/2026

❤️ Bệnh cơ tim phì đại (Hypertrophic cardiomyopathy - HCM) là bệnh cơ tim do di truyền phổ biến nhất, có thể khởi phát ở những người trẻ tuổi trong thai kỳ. Mang thai là trạng thái gây stress lên cơ thể với nhiều sự thích nghi về huyết động; tình trạng này có khả năng làm trầm trọng thêm bệnh lý tim mạch tiềm ẩn và làm tăng nguy cơ xảy ra biến chứng. Tỷ lệ tử vong ở phụ nữ mang thai mắc HCM được ghi nhận là 0,2%–0,5%, cao hơn so với tỷ lệ tử vong mẹ nói chung tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, cũng ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ở người mẹ và các kết cục bất lợi cho thai nhi. Việc đánh giá nguy cơ trước khi mang thai, tư vấn di truyền, quản lý đa chuyên khoa, theo dõi sát sao và chăm sóc hậu sản là những yếu tố then chốt để cải thiện kết cục cho cả mẹ và thai nhi. 🧬
🤰🏻Trong thai kỳ, việc tăng thể tích huyết tương đáng kể (khoảng 40-50%) làm giãn buồng thất trái (LV), về mặt lý thuyết sẽ giúp giảm mức độ tắc nghẽn đường ra thất trái (LVOT). Tuy nhiên, thất trái lại rơi vào trạng thái tăng hoạt động (hyperdynamic), với lực co bóp mạnh hơn để tạo ra cung lượng tim cao hơn; điều này có nguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng tắc nghẽn LVOT. Khi thai kỳ tiến triển, nhịp tim tăng lên trong tam cá nguyệt thứ ba cũng góp phần làm tăng cung lượng tim, dẫn đến sự gia tăng dần mức độ LVOT. Trong bối cảnh bệnh cơ tim phì đại (HCM), sự kết hợp giữa tình trạng tăng thể tích huyết tương và kích thước buồng thất nhỏ có thể làm tăng nguy cơ suy tim sung huyết cũng như các biến cố bất lợi cho người mẹ trong thai kỳ. Trong quá trình chuyển dạ, tình trạng tắc nghẽn LVOT càng trở nên trầm trọng hơn do nhịp tim tăng vọt (hệ quả của sự gia tăng đột ngột catecholamine) vì đau, co thắt tử cung, mất máu và căng thẳng. Những thay đổi cấp tính về huyết động và sự dịch chuyển thể tích trong quá trình chuyển dạ cũng như giai đoạn ngay sau sinh tạo ra thời điểm lâm sàng diễn tiến xấu nhanh. Cuối cùng, sự căng giãn và mở rộng các buồng tim trong suốt thai kỳ do tình trạng tăng thể tích tuần hoàn có thể là yếu tố góp phần gây ra các rối loạn nhịp trên thất (như rung nhĩ), dẫn đến tình trạng mất bù ở phụ nữ mắc bệnh cơ tim phì đại.
🩺 Mặc dù nguy cơ xảy ra biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân mắc bệnh cơ tim phì đại (HCM) là tương đối thấp, các hướng dẫn vẫn khuyến nghị lập kế hoạch sinh nở với sự tham gia của một ê-kíp đa chuyên khoa. Kế hoạch về phương pháp và thời điểm sinh cần được hoàn tất vào cuối tam cá nguyệt thứ hai, thời điểm thể tích máu của người mẹ tăng đến mức tối đa. Các yếu tố cần xem xét bao gồm các triệu chứng lâm sàng, phân suất tống máu, tiền sử rối loạn nhịp tim, các bệnh lý đi kèm, cũng như mức độ nghiêm trọng và sự tiến triển của tình trạng tắc nghẽn đường thoát thất trái (LVOT) trong suốt thai kỳ.
🩸Cần theo dõi liên tục huyết áp và nhịp tim trong quá trình chuyển dạ—do nguy cơ rối loạn nhịp tim tăng cao khi có áp lực lên huyết động—nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu mất bù; việc sinh nên diễn ra tại các đơn vị sản khoa chuyên trách cho các ca nguy cơ cao, nơi có sẵn các phương tiện theo dõi và khả năng can thiệp tim mạch khẩn cấp. Cần thận trọng khi sử dụng các thuốc khởi phát chuyển dạ (như oxytocin) và cân nhắc kỹ lưỡng việc truyền dịch tĩnh mạch để phòng ngừa rối loạn nhịp tim và tình trạng quá tải thể tích.
💉Trong quá trình sinh nở, phụ nữ có đặt máy khử rung tim cấy ghép (ICD) cần sự phối hợp đa chuyên khoa giữa các ê-kíp tim mạch, sản khoa, gây mê và điện sinh lý tim. Để giảm thiểu nhiễu điện từ do dao mổ điện gây ra trong quá trình sinh mổ, ưu tiên sử dụng dao mổ điện lưỡng cực (bipolar). Nếu bắt buộc phải dùng dao mổ điện đơn cực (monopolar), cần thực hiện từng đợt ngắn để giảm thiểu nhiễu điện từ. Khi dự kiến có nhiễu đáng kể, cần tạm thời ngưng hoạt động của ICD bằng cách sử dụng nam châm hoặc lập trình lại thiết bị, đồng thời chuẩn bị sẵn các miếng dán khử rung ngoài. Đối với bệnh nhân sinh thường, không cần thiết phải vô hiệu hóa thiết bị.
❤️ Những bệnh nhân bị tắc nghẽn LVOT mức độ nặng, suy tim nặng hoặc chuyển dạ sinh non trong khi đang điều trị bằng thuốc chống đông sẽ đối mặt với nguy cơ cao xảy ra biến chứng nghiêm trọng; do đó, cần cân nhắc phương pháp sinh mổ kết hợp với việc theo dõi sát sao hệ tuần hoàn và nhịp tim. Bhave và cộng sự đã minh chứng cho tầm quan trọng của việc quản lý đa chuyên khoa đối với các bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ nghiêm trọng, thông qua việc mô tả chi tiết quá trình quản lý thành công ca sinh mổ ở một bệnh nhân mắc bệnh cơ tim phì đại (HCM) có biến chứng chênh áp đường thoát thất trái (LVOT) > 100 mmHg. Điểm quan trọng trong trường hợp này là cần thận trọng để tránh tình trạng tụt huyết áp khi thực hiện gây tê ngoài màng cứng hoặc gây tê tủy sống ở những bệnh nhân bị tắc nghẽn đường thoát thất trái (LVOT) mức độ nặng; do đó, kỹ thuật gây tê liều đơn (single-shot anesthesia) không được khuyến cáo áp dụng cho nhóm bệnh nhân này.
Việc theo dõi sát sao tình trạng huyết động cũng cần được duy trì trong giai đoạn hậu sản. Bất kỳ sự huy động nhanh chóng nào của dịch ngoài lòng mạch đều gây ra những thay đổi đáng kể về huyết động, làm tăng nguy cơ phù phổi và loạn nhịp tim, do đó đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ trong giai đoạn ngay sau sinh.

🩷Hôm nay Bệnh viện Mỹ Đức có một ca mổ lấy thai vô cùng đặc biệt: thai phụ có bệnh cơ tim phì đại đã phẫu thuật, với tình trạng block nhĩ thất nhánh trái và phải hoàn toàn. Cuộc mổ có nguy cơ rất cao vì bệnh nhân có thể đi vào rối loạn nhịp nguy hiểm bất kỳ lúc nào. Từ sáng sớm phòng mổ đã rộn ràng, với ekip sản khoa và gây mê hồi sức hùng hậu phối hợp để thực hiện cuộc mổ an toàn cho mẹ và bé. Hiện mẹ và bé đều khoẻ mạnh và ổn định, ekip mới có thể thở phào nhẹ nhõm!

TLTK
1. Mehta A, Schumacher S, Bhansali RA, et al. Pregnancy Management and Outcomes with Hypertrophic Cardiomyopathy. CJC Open. 2026;8(6):748-756. Published 2026 Feb 13. doi:10.1016/j.cjco.2026.02.007
2. Bhave A, Mohan G, Couture L, Sharma G, Yirerong J. Multidisciplinary approach to management of hypertrophic cardiomyopathy with severe left ventricular outflow obstruction in pregnancy. JACC Case Rep 2023;27:102057.

“Đâu, em bé đâu?- em bé đây nè.”Hôm nay phòng khám Sản có hai bạn nhỏ siêu dễ thương theo ba mẹ đến khám, hai bạn nhất q...
10/08/2026

“Đâu, em bé đâu?
- em bé đây nè.”
Hôm nay phòng khám Sản có hai bạn nhỏ siêu dễ thương theo ba mẹ đến khám, hai bạn nhất quyết đòi đi cho bằng được để gặp em sớm. Hết sức tò mò nhìn vào ảnh siêu âm để xem em bé đâu, mong là bác chỉ cũng dễ hiểu🥰 đợi vài tuần nữa sẽ thấy rõ hơn các con nhé.
Ảnh bạn NHS chụp, nhờ AI vẽ lại cho dễ thương.

10/08/2026

Bữa sau mình sẽ lên bài về việc đái tháo đường khởi phát sớm không đồng nghĩa rằng thai sẽ luôn bị dị tật


Tiktok Bác sĩ Mỹ Đức: https://vt.tiktok.com/ZS4tUnunf/

Thời điểm chấm dứt thai kỳ ở sản phụ có đái tháo đường trước mang thai : tại sao có sự khác biệt giữa ACOG/SMFM và NICE?...
09/08/2026

Thời điểm chấm dứt thai kỳ ở sản phụ có đái tháo đường trước mang thai : tại sao có sự khác biệt giữa ACOG/SMFM và NICE?
** Pre-gestational diabetes: đái tháo đường trước mang thai/ đái tháo đường tiền thai kỳ, bao gồm ĐTĐ type 1 và ĐTĐ type 2 được chẩn đoán trước mang thai. Sự khác biệt giữa ACOG/SMFM (Hoa Kỳ) và NICE (Anh) trong khuyến cáo thời điểm chấm dứt thai kỳ ở phụ nữ đái tháo đường tiền thai kỳ kiểm soát tốt nằm ở nguyên tắc quản lý rủi ro và cách cân bằng nguy cơ-lợi ích:
- ACOG: Chờ đến 39 tuần 0 ngày – 39 tuần 6 ngày
- NICE: Chủ động sinh sớm hơn, từ 37 tuần 0 ngày – 38 tuần 6 ngày
Nguyên nhân cốt lõi của sự khác biệt này xuất phát từ 3 yếu tố chính dưới đây:
1. Nguy cơ Thai chết lưu (Stillbirth) vs Nguy cơ của Sinh non muộn/ đủ tháng sớm (Late Preterm/Early Term)
Sự khác biệt lớn nhất giữa hai Hiệp hội nằm ở việc họ e ngại nguy cơ nào hơn khi đối mặt với một thai kỳ ĐTĐ tiền thai kỳ.
* Góc nhìn của NICE :Ưu tiên tối đa việc phòng ngừa thai chết lưu
- NICE dựa trên các dữ liệu dịch tễ học tại Anh cho thấy nguy cơ thai chết lưu trong thai kỳ ĐTĐ tiền thai kỳ tăng vọt theo cấp số nhân từ sau tuần 38. Dù đường huyết được kiểm soát tốt, sự thoái hóa sớm của bánh nhau và biến đổi mạch máu vi mô vẫn có thể xảy ra đột ngột.
- Do đó, NICE chọn giải pháp an toàn tuyệt đối cho thai nhi: Chủ động chấm dứt thai kỳ ở tuần 37–38 để loại bỏ hoàn toàn rủi ro mất thai trong 2 tuần cuối cùng, chấp nhận một tỷ lệ nhỏ sơ sinh bị suy hô hấp nhẹ do sinh sớm (Early Term).
* Góc nhìn của ACOG : Cân bằng giữa nguy cơ thai lưu và nguy cơ sơ sinh
- ACOG đánh giá rằng ở những thai phụ kiểm soát đường huyết thực sự tốt và không có tổn thương mạch máu, nguy cơ thai chết lưu ở tuần 38–39 là đủ thấp. Nhờ có hệ thống theo dõi sức khỏe thai nhi tốt, nguy cơ thai chết lưu trong giai đoạn 37–39 tuần ở nhóm kiểm soát tốt được kéo giảm xuống mức

08/08/2026

Nếu mẹ có đái tháo đường thai kỳ, chỉ định mổ lấy thai khi ước lượng cân nặng bé từ 4000-4500g trở lên để tránh nguy cơ kẹt vai và các tai biến chu sinh nghiêm trọng. (Theo Hướng dẫn lâm sàng của Bộ Y Tế Việt Nam, Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG))
https://vt.tiktok.com/ZS4g9Dw49/

Biết ơn những tình cảm trân quýHồi nhỏ ước được làm việc gì đi nhiều ít ngồi lâu, lớn được hơn vậy: toàn chạy. Sau một t...
07/08/2026

Biết ơn những tình cảm trân quý
Hồi nhỏ ước được làm việc gì đi nhiều ít ngồi lâu, lớn được hơn vậy: toàn chạy. Sau một tuần làm việc hết công suất, nay mình mới tranh thủ được ít thời gian trong đêm trực để viết vài dòng. Một tuần mà hết 3 ngày ở lại bệnh viện đến tối muộn, thêm 1 ngày trực, bên cạnh chuyên môn còn phải hoàn thành bài viết cho tạp chí Y học sinh sản, nhập số liệu nghiên cứu, chuẩn bị bài trình bày trong buổi live stream về đái tháo đường thai kỳ sớm (đọc qua cỡ 100 bài báo khoa học😭), lên nội dung cho clip ngắn về ĐTĐTK cho kênh truyền thông của bệnh viện và quay clip chỉ trong một buổi chiều. Thời gian ở BV còn nhiều hơn ở nhà mà cuối ngày vẫn thấy vui. Mình có những người bạn lâu năm từng học chung ngành Y vẫn thỉnh thoảng còn trò chuyện, đôi lúc lại hỏi động lực của nhau là gì. Vào một ngày bình thường như mọi ngày khác, mình tìm được câu trả lời khi vừa xong một ca sinh, mình bước xuống sảnh và gặp cả gia đình hai bên đều đang ngồi chờ ngóng trông, ai cũng nở nụ cười hạnh phúc hân hoan và nhận ra mình. Những nụ cười này chính là ngọn nguồn sức mạnh của mình đó.
Trong ảnh là bó hoa rực rỡ được gia đình của mẹ bỉm mang thai lần 3 tặng. Sau khi đã sinh mổ 2 bé đầu được hơn 10 năm, lần thứ 3 đúng là nhiều thử thách, chuyển dạ sớm, gò sớm, trong thai kỳ còn có mấy đợt sỏi tiết niệu gây tiểu máu, lúc mổ thì bàng quang kéo cao, thành bụng mạch máu tăng sinh nhiều. Tới ngày xuất viện mẹ tròn con vuông, BS không có gì mừng hơn, tối đó đặt ship hoả tốc liền bình gốm để cắm hoa giữ hoa tươi lâu 😆🌸

Các rối loạn tăng huyết áp thai kỳ: tổng quan hệ thống các hướng dẫn lâm sàng quốc tế• Mục tiêu NC: Xem xét, so sánh các...
06/08/2026

Các rối loạn tăng huyết áp thai kỳ: tổng quan hệ thống các hướng dẫn lâm sàng quốc tế
• Mục tiêu NC: Xem xét, so sánh các bản cập nhật mới của các Hướng dẫn thực hành lâm sàng (từ tháng 1/2015 đến tháng 1/2025), cập nhật bản review năm 2020, để đánh giá xem liệu những sự bất đồng/không nhất quán giữa các hướng dẫn về tăng huyết áp trong thai kỳ (Hypertensive disorders of pregnancy-HDP) đã được khắc phục hay chưa. Từ đó hỗ trợ thực hành y khoa dựa trên bằng chứng cho các bác sĩ lâm sàng, đồng thời chỉ ra các khoảng trống nghiêncứu để định hướng cho các nghiên cứu y khoa trong tương lai
• NC sử dụng công cụ chuẩn hóa AGREE II để thẩm định độc lập chất lượng và độ tin cậy của 23 hướng dẫn lâm sàng (clinical practice guidelines – CPGs) quốc tế và ở các quốc gia.
Kết quả: 23 CPGs được lựa chọn phân tích. Sử dụng công cụ AGREE II, có 14 CPG được đánh giá là "có ích về mặt lâm sàng". Các CPG còn lại (N=9) được đánh giá là "cần điều chỉnh". Các CPG đạt điểm cao nhất (điểm ở lĩnh vực) là CEMDSA, FECOLSOG, ISSHP, MSH, NICE, NVOG, SOGC và WHO. Các điểm đồng nhất (đã đạt sự nhất trí cao) và chưa đồng nhất (còn khác biệt) đáng chú ý giữa các Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng (CPG) quốc tế và quốc gia là:
I. Những điểm đã được thống nhất giữa các CPG:
Định nghĩa Tăng huyết áp và Tăng huyết áp nặng:
• Tăng huyết áp (HA): Hầu hết các CPG thống nhất ngưỡng HA tâm thu (sBP) >= 140 mmHg hoặc HA tâm trương (dBP) >= 90 mmHg .
• Tăng huyết áp nặng:Đồng nhất là sBP>= 160 mmHg hoặc dBP >= 110 mmHg(ngoại trừ SOMANZ vẫn giữ mốc sBP >= 170 mmHg).
• Tăng huyết áp mạn tính & Tăng huyết áp thai kỳ: Thống nhất mốc thời điểm 20 tuần tuổi thai để phân biệt (xuất hiện trước hay sau 20 tuần).
Thay đổi tư duy trong chẩn đoán Tiền sản giật:
• Đạm niệu (Proteinuria) không còn là tiêu chuẩn bắt buộc: Đa số các CPG (14/19) coi đạm niệu chỉ là 1 trong nhiều tiêu chuẩn phản ánh biến chứng cơ quan đích ở mẹ hoặc thai, thay vì là tiêu chuẩn bắt buộc phải có để chẩn đoán tiền sản giật (chỉ còn 4 CPG duy trì bắt buộc).
• Mười chín CPG cung cấp định nghĩa về đạm niệu: tỉ lệ protein:creatinine ≥30 mg/mmol (N=11), tỉ lệ albumin/creatinine ≥8 mg/mmol (N=11), đạm niệu 24-giờ ≥0.3 g/d (N=10), hoặc protein/ dipstick nước tiểu ≥1+ khi lặp lại (N=2), ≥1+ (N=1), hoặc ≥2+ (N=4).
Đo huyết áp : là một lĩnh vực quan sát thấy sự nhất quán giữa các CPG. 10 CPG (ACOG, AIPE & SIMP, ESC, ISSHP, NICE, NVOG, NPMS, CEMDSA, SOMANZ và USPSTF) quy định rằng thai phụ nên ở tư thế ngồi trong khi đo. Hầu hết các CPG không đề cập đến việc sử dụng bao đo có kích thước phù hợp. Trong nghiên cứu của Scott và cộng sự, huyết áp kế thủy ngân là thiết bị được khuyến cáo phổ biến nhất; tuy nhiên, các CPG gần đây thường khuyến cáo một "máy đo đã được kiểm định dùng cho thai kỳ". Đáng chú ý, không có CPG nào khuyến cáo thiết bị đo cơ (aneroid) như một tiêu chuẩn vàng.
Điều trị hạ áp cho Tăng huyết áp mạn tính:
• Tiến triển lớn so với năm 2020 là đa số CPG hiện nay đồng thuận khuyến cáo khởi động điều trị thuốc hạ áp cho phụ nữ mang thai có tăng huyết áp mạn tính ở mức độ không nặng: bắt đầu khi sBP >=140 mmhg hoặc dBP >= 90 mmHg (12 CPGs), các thuốc đầu tay là labetalol (11 CPGs), methyldopa (9 CPGs) và nifedipine (8 CPGs).
Tầm soát yếu tố nguy cơ lâm sàng để xác định nguy cơ tiền sản giật vẫn là chuẩn mực, mặc dù có bằng chứng thuyết phục cho thấy các yếu tố nguy cơ này hoạt động kém hiệu quả, và mô hình rủi ro cạnh tranh đa biến của FMF tỏ ra vượt trội hơn trong việc ngăn ngừa cả tiền sản giật sớm và tiền sản giật đủ tháng.
Sử dụng Aspirin liều thấp để dự phòng:
• 21/23 CPG đồng thuận sử dụng Aspirin liều thấp cho phụ nữ có nguy cơ cao bị tiền sản giật.
• WHO đơn độc khi ủng hộ việc bắt đầu dùng aspirin liều thấp để ngăn ngừa tiền sản giật sau 16 tuần thai kỳ.
• Khoảng liều đã thu hẹp: Toàn bộ CPG hiện đã đưa liều khuyến cáo nằm trong khoảng thống nhất hơn là từ 75 mg/ ngày đến 162 mg/ngày .
• Hiện có các nghiên cứu đang tiến hành về liều aspirin tối ưu để phòng ngừa tiền sản giật (NICHD [81 mg so với 162 mg], PEARLS [75 mg so với 150 mg]), việc ngừng aspirin dựa trên marker tân tạo mạch ở giữa thai kỳ (Fetal Medicine Foundation), và việc sử dụng trong đa thai (ASPRE-T).
Thuốc dự phòng/điều trị Sản giật (Eclampsia):
• Tất cả CPG có đề cập đều đồng thuận sử dụng Magnesium Sulfate (MgSO4) là lựa chọn hàng đầu để điều trị sản giật và phòng ngừa sản giật ở thai phụ tiền sản giật nặng.
Thời điểm sinh đối với thai đủ tháng (>= 37 tuần):
• Đạt sự đồng thuận cao về việc chủ động cho sinh/chấm dứt thai kỳ từ tuần thứ 37 cho phụ nữ bị tăng huyết áp mạn tính, tăng huyết áp thai kỳ hoặc tiền sản giật, và không khuyến cáo kéo dài thai kỳ quá 40 tuần.
II. Những điểm CHƯA ĐỒNG NHẤT đáng chú ý
Định nghĩa thuật ngữ "Tiền sản giật NẶNG" (Severe Preeclampsia):
• Có 10 CPG vẫn tiếp tục sử dụng khái niệm/tiêu chuẩn "Tiền sản giật nặng" (hoặc "các dấu hiệu nặng").
• Ngược lại, 2 CPG lớn (DGGG của Đức và ISSHP quốc tế) khuyến cáo rõ ràng không nên dùng thuật ngữ "nặng", vì diễn tiến lâm sàng của tiền sản giật thay đổi rất nhanh và bất ngờ.
• Điều quan trọng cần nhấn mạnh là các biến chứng mà ACOG phân loại là "các đặc điểm nặng" (severe features) lại tương ứng với các biểu hiện tổn thương cơ quan đích mà các hiệp hội khác dùng để định nghĩa bệnh. Sự khác biệt này làm nổi bật khoảng cách trong việc chuẩn hóa quốc tế, gợi ý cần có sự hài hòa hơn nữa về các tiêu chuẩn chẩn đoán
Chi tiết về điều trị dự phòng bằng Aspirin:
• Liều lượng cụ thể: Vẫn còn phân tán (nhóm dùng 75-81 mg/ngày , nhóm dùng 100 mg/ngày, nhóm khuyến cáo 150-162 mg/ngày).
• Thời điểm bắt đầu dùng: Đa số khuyến cáo từ 12–16 tuần, nhưng có CPG chấp nhận bắt đầu đến tận tuần 20 (CNGOF) hoặc ngay khi khám thai lần đầu dù đã qua 20 tuần (WHO).
Điều trị hạ áp cho Tăng huyết áp thai kỳ / Tiền sản giật không nặng:
• Trái ngược với sự đồng thuận ở nhóm tăng huyết áp mạn tính, các tư vấn điều trị hạ áp đối với tăng huyết áp thai kỳ hoặc tiền sản giật ở mức độ nhẹ/trung bình vẫn còn nhiều bất đồng giữa các hướng dẫn.
Thời điểm chấm dứt thai kỳ ở nhóm non tháng ( 34 đến 36 + 6 tuần):
• Đây là giai đoạn có sự phân hóa rõ rệt: Một số CPG khuyên cho sinh nếu có các dấu hiệu nặng, trong khi một số CPG khác ủng hộ tiếp tục theo dõi bảo tồn đến 37 tuần nếu tình trạng mẹ và thai nhi vẫn ổn định.
Quy trình và Tần suất theo dõi Mẹ & Thai nhi:
• Mặc dù các CPG đều đồng ý dùng siêu âm, Doppler động mạch rốn và thể tích nước ối để đánh giá thai chậm phát triển (FGR), tần suất thực hiện lại rất khác nhau (nơi khuyên 2 tuần/lần, nơi khuyên 3–4 tuần/lần, nơi chỉ làm khi có triệu chứng).
• Các hướng dẫn về tự theo dõi huyết áp tại nhà hay lịch trình xét nghiệm máu/đạm niệu định kỳ cho mẹ vẫn chưa được xây dựng đồng bộ.
Kết luận : Mặc dù có một số khác biệt, đã có sự nhất quán đáng chú ý trong một số khía cạnh nội dung CPG, cho thấy mức độ mạnh của các khuyến cáo và chất lượng bằng chứng hỗ trợ là rất vững chắc. Tuy nhiên, sự không nhất quán vẫn kéo dài, có thể do các yếu tố như việc điều chỉnh khuyến cáo theo bối cảnh địa phương. Điều quan trọng là, khi sự bất đồng xuất phát từ bằng chứng chưa kết luận hoặc còn yếu, việc nghiên cứu thêm là thiết yếu để đưa ra các khuyến cáo dứt khoát.

04/08/2026

Hông, hông phải lúc nào đái tháo đường cũng đồng nghĩa với con to 👇🏻 mẹ ráng kiểm soát đường huyết và cân nặng là ổn nhé
Follow tiktok của Bác sĩ Mỹ Đức https://vt.tiktok.com/ZS4aYP9Nv/

Những điều nho nhỏ ngọt ngào vào một ngày cuối tuần 🌹🩷Bs được mẹ Liên tặng đường ăn kiêng nữa, sắp giảm cân thành công r...
01/08/2026

Những điều nho nhỏ ngọt ngào vào một ngày cuối tuần 🌹🩷
Bs được mẹ Liên tặng đường ăn kiêng nữa, sắp giảm cân thành công rồi 🥰

Có đái tháo đường có đồng nghĩa với việc phải sinh sớm? Xem lại tại livestream về quản lý ĐTĐTK của Bệnh viện Mỹ Đức: 👇🏻...
31/07/2026

Có đái tháo đường có đồng nghĩa với việc phải sinh sớm? Xem lại tại livestream về quản lý ĐTĐTK của Bệnh viện Mỹ Đức: 👇🏻
Trong trường hợp đường huyết kiểm soát không tốt, có biến chứng, thai hoặc mẹ có vấn đề sức khoẻ khác kèm theo -> chấm dứt thai kỳ ở 37-38 +6/7 tuần, cá thể hoá từng trường hợp.
https://www.facebook.com/share/v/19QBwrwzsF/?mibextid=wwXIfr

Address

4 Núi Thành, Phường 13, Quận Tân Bình
Ho Chi Minh City
70000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when BS Tô Mỹ Anh - CK Sản Phụ Khoa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share