18/10/2026
Cây Sữa – Mùi hương hoa Sữa
Người Hà Nội nhận ra mùa thu không chỉ bằng heo may hay cốm non, mà còn bằng mùi hoa Sữa. Khoảng tháng 10-11, những hàng cây dọc phố đồng loạt nở trắng, và mùi hương ấy theo gió len vào từng con ngõ. Có người mê say, có người lại thấy ngột ngạt. Vậy Sữa là cây gì, và điều gì nằm sau mùi hương gây tranh cãi ấy? Chúng ta hãy tìm hiểu loài cây này dưới góc nhìn khoa học nhé.
Cây Sữa có tên khoa học là Alstonia scholaris (L.) R. Br., thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae) . Đây vừa là cây bóng mát, vừa là cây thuốc quen thuộc ở nhiều nước châu Á.
Bạn có thể nhận ra cây Sữa qua vài đặc điểm: Thân: cây gỗ lớn, thường xanh, cao 10–18 m hoặc hơn. Vỏ xám, sần sùi. Khi bị xước, cây chảy ra nhiều nhựa mủ trắng đục, vị đắng — đây chính là lý do cây có tên "sữa". Lá: mọc vòng, 4–8 lá cùng mọc ra từ một đốt. Người Ấn Độ gọi cây là Saptaparna, nghĩa là "bảy lá". Mặt trên lá xanh thẫm, bóng; mặt dưới nhạt màu. Hoa: nhỏ, màu trắng xanh, mọc thành cụm dạng tán ở đầu cành, tỏa mùi thơm nồng. Quả và hạt: quả dạng quả đại, rủ xuống thành chùm. Hạt dẹt, có lông nâu ở hai đầu để bay theo gió [1, 2]
Hoa Sữa được biết đến nhờ mùi hoa đặc trưng. Mùi hoa Sữa được tạo nên từ thành phần tinh dầu - một hỗn hợp gồm nhiều thành phần bay hơi chủ yếu thuộc nhóm monoterpen và sesquiterpen. Một công trình nghiên cứu thực hiện phân tích tinh dầu Hoa Sữa tươi thu hái ở Hà nội nhận diện được hơn 34 chất, chiếm 92,5% lượng tinh dầu. Hơn 90% trong số đó là các chất có chứa oxy — nhóm chất thường có mùi thơm rõ và đậm nhất. Thành phần chính trong tinh dầu Hoa sữa là linalool (35,7%), linalool oxide (14,7%), α-terpineol (12,3 %), 2-phenylethyl acetat (6,3%) terpinen-4-ol (5,6%) [3]. Như vậy chỉ riêng linalool và các "anh em" oxide của nó đã chiếm gần một nửa thành phần trong tinh dầu. Điều thú vị là từng chất riêng lẻ đều có mùi khá dễ chịu. Mùi nồng "đặc sệt" của hoa sữa là do các chất này cộng hưởng với nhau, và do cây tỏa ra với lượng rất lớn.
Ngoài tinh dầu, hoa Sữa còn chứa các nhóm chất không bay hơi, không tạo mùi nhưng có hoạt tính sinh học như flavonoid và dẫn chất phenol có hoạt tính chống oxi hóa, alkaloid và triterpenoid (strictamin, picrinin, acid ursolic, lupeol, α-amyrin) cho thấy tác dụng giảm đau, chống viêm, hạ sốt [1, 2, 4].
Tính trên toàn cây, các nhà khoa học đã tách được hơn 400 hợp chất từ cây Sữa, trong đó hơn 180 là alkaloid. Alkaloid là nhóm chất có chứa nitơ thường có tác dụng sinh lý mạnh. Ở cây Sữa, chúng tập trung nhiều ở vỏ và lá. Các alkaloid chính có cấu trúc nhân indol tiêu biểu là echitamin, alstonin, picrinin, scholaricin và vallesamin [1, 2, 4].
Trong y học cổ truyền Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines, vỏ cây Sữa là bộ phận được dùng nhiều nhất, có tác dụng thuốc bổ đắng, chữa sốt, sốt rét, tiêu chảy, hen suyễn, và làm thuốc thông sữa cho phụ nữ sau sinh. Lá được giã đắp mụn nhọt, sắc uống chữa ho. Nhựa mủ pha với dầu thực vật để bôi vết loét, đau khớp [4].
Các nghiên cứu dược lý in vitro và in vivo phần nào giải thích các công dụng đó. Dịch chiết từ các bộ phận của cây Sữa cho thấy tác dụng chống viêm, giãn phế quản, kháng khuẩn, ức chế ký sinh trùng sốt rét, bảo vệ gan thận, hạ đường huyết và giảm lo âu [2, 4]. Tuy vậy, phần lớn chưa được thử nghiệm lâm sàng trên người. Các alkaloid có hoạt tính mạnh nên có thể gây hại nếu dùng sai liều, vì vậy không nên tự ý sắc vỏ hay lá Sữa để uống khi chưa hỏi ý kiến thầy thuốc.
Hiện nay cây Sữa tạo nên tranh luận về vấn đề mùi thơm nồng khi hoa nở. Bạn nghĩ sao về ý tưởng thu hái hoa để chiết tách thành phần linalool? Linalool là một chất định hương rất quý trong ngành hương liệu và còn được chứng minh có khả năng trị liệu trầm cảm [5].
TLTK
[1] M. S. Khyade, D. M. Kasote, and N. P. Vaikos, "Alstonia scholaris (L.) R. Br. and Alstonia macrophylla Wall. ex G. Don: A comparative review on traditional uses, phytochemistry and pharmacology," Journal of Ethnopharmacology, vol. 153, no. 1, pp. 1-18, 2014/04/11/ 2014, doi: https://doi.org/10.1016/j.jep.2014.01.025.
[2] M. S. Baliga, "Review of the phytochemical, pharmacological and toxicological properties of Alstonia scholaris Linn. R. Br (Saptaparna)," Chinese journal of integrative medicine, pp. 1-14, 2012.
[3] N. X. Dung, P. H. Ngoc, D. D. Rang, N. T. Nhan, N. Klinkby, and P. Leclercq, "Chemical Composition of the Volatile Concentrate from the Flowers of Vietnamese Alstonia scholaris (L.) R.Br., Apocynaceae," Journal of Essential Oil Research, vol. 13, no. 6, pp. 424-426, 2001/11/01 2001, doi: 10.1080/10412905.2001.9699714.
[4] P. K. Verma, S. Tukra, B. Singh, P. Sharma, G. Abdi, and Z. F. Bhat, "Unveiling the ethnomedicinal potential of Alstonia scholaris (L.) R. Br.: A comprehensive review on phytochemistry, pharmacology and its applications," Food Chemistry Advances, vol. 6, p. 100866, 2025/03/01/ 2025, doi: https://doi.org/10.1016/j.focha.2024.100866.
[5] R. Q. Dos Santos É, J. G. S. Maia, E. A. Fontes-Júnior, and C. do Socorro Ferraz Maia, "Linalool as a Therapeutic and Medicinal Tool in Depression Treatment: A Review," (in eng), Curr Neuropharmacol, vol. 20, no. 6, pp. 1073-1092, 2022, doi: 10.2174/1570159x19666210920094504.