04/10/2021
THUỐC TRÁNH THAI UỐNG VÀ UNG THƯ
1. Hormon và ung thư
Estrogen - một hormon sinh dục - được biết đến như là tác nhân gây ung thư ở người. Mặc dù hormon này có tác dụng sinh lý quan trọng đối với cả nam và nữ, nhưng chính estrogen làm tăng nguy cơ mắc một số ung thư.
Ví dụ: sử dụng liệu pháp hormon thay thế (kết hợp estrogen và progestin) cho phụ nữ mãn kinh làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Trong khi liệu pháp hormon thay thế với estrogen đơn thuần làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung. Do vậy liệu pháp với estrogen đơn thuần chỉ nên được sử dụng cho những người đã được cắt tử cung.
Ung thư vú không những liên quan với estrogen ngoại sinh (loại estrogen đưa vào cơ thể qua đường uống, tiêm), mà ung thư vú cũng liên quan với chính estrogen trong cơ thể. Loại estrogen này thường được tiết ra từ buồng trứng (gọi là estrogen nội sinh), có vai trò quan trọng trong duy trì vẻ đẹp của cơ thể (da mềm mịn, xương chắc khỏe, cơ thể với các đường cong...).
Quá trình cơ thể tiếp xúc với estrogen trong thời gian càng dài và/hoặc với nồng độ càng cao thì nguy cơ ung thư vú càng cao. Chính vì vậy những phụ nữ dậy thì sớm, mãn kinh muộn, sinh con đầu lòng muộn hoặc không sinh con sẽ có nguy cơ ung thư vú cao hơn những phụ nữ khác.
Một ví dụ cho sự ảnh hưởng của estrogen với phụ nữ là thuốc Diethylstillbestrol (DES). DES là một dạng của estrogen, thường được sử dụng ở Hoa Kỳ những từ 1940 đến 1971 cho những trường hợp dọa sảy thai, dọa đẻ non hoặc những vấn đề liên quan đến mang thai khác. Những phụ nữ từng sử dụng DES trong thời gian mang thai có nguy cơ cao bị ung thư vú. Con gái của những phụ nữ này cũng có nguy cơ cao với ung thư buồng trứng và cổ tử cung. Sau năm 1971, DES đã được Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) rút giấy phép.
2. Thuốc tránh thai uống và ung thư
Thuốc tránh thai uống là thuốc chứa hormon estrogen và progesteron, có tác dụng tránh thai nhờ ngăn sự rụng trứng và ngăn sự xâm nhập của tinh trùng qua cổ tử cung.
Các nghiên cứu mô tả cho thấy thuốc tránh thai đường uống làm tăng nguy cơ ung thư vú và ung thư cổ tử cung ở những phụ nữ có sử dụng. Trong khi đó, thuốc làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng và ung thư đại trực tràng [1], [2].
- 👉 Ung thư vú: Thuốc tránh thai uống làm tăng nhẹ nguy cơ ung thư vú.
Phân tích dữ liệu của 150.000 phụ nữ từ 54 nghiên cứu dịch tễ, các nhà khoa học ghi nhận:
+ Phụ nữ từng sử dụng thuốc tránh thai đường uống tăng 7% nguy cơ ung thư vú so với phụ nữ chưa bao giờ sử dụng.
+ Những phụ nữ đang sử dụng thuốc tránh thai uống hoặc gần đây có sử dụng thì có nguy cơ ung thư vú là cao nhất, lên đến 24%.
+ Sau khi dừng thuốc tránh thai uống, nguy cơ này sẽ giảm dần. 10 năm sau khi dừng thuốc, nguy cơ ung thư vú những phụ nữ này mới tương đương như những người chưa bao giờ uống thuốc [3].
- 👉 Ung thư cổ tử cung: Thời gian sử dụng thuốc tránh thai uống càng dài, nguy cơ ung thư cổ tử cung càng cao. Sau 5 năm uống thuốc, nguy cơ ung thư cổ tử cung là 10%, tăng lên 60% sau 5-9 năm sử dụng, và tăng lên gấp đôi sau 10 năm sử dụng [4]. Tuy nhiên, cũng tương tự như ung thư vú, sau khi dừng thuốc, nguy cơ ung thư cổ tử cung sẽ giảm dần theo thời gian.
- 👉 Ung thư nội mạc tử cung: Phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai uống giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung ít nhất 30% so với người không dùng thuốc. Sử dụng thuốc càng dài, tác dụng ngăn ngừa ung thư cổ tử cung của thuốc tránh thai uống càng tăng và tác dụng này sẽ giảm dần nhiều năm sau khi dừng thuốc [5]. Tác dụng ngăn ngừa ung thư cổ tử cung đặc biệt có hiệu quả với những phụ nữ uống thuốc tránh thai kéo dài kèm theo hút thuốc, béo phì và lười vận động [6].
- 👉 Ung thư buồng trứng: Phụ nữ từng dùng thuốc tránh thai uống giảm 30-50% nguy cơ ung thư buồng trứng so với phụ nữ chưa bao giờ sử dụng. Tác dụng ngăn ngừa ung thư buồng trứng tăng dần theo thời gian sử dụng, và kéo dài đến 30 năm sau khi dừng thuốc [7].
- 👉 Ung thư đại trực tràng: Thuốc tránh thai uống làm giảm 15 - 20% nguy cơ ung thư đại trực tràng [5].
Vậy tại sao thuốc tránh thai uống lại có liên quan đến những ung thư trên?
Bình thường estrogen và progesteron kích thích sự phát triển của một số ung thư như ung thư vú, do tại vú có những receptor (còn gọi là thụ thể trên bề mặt tế bào) tiếp nhận những hormon này. Thuốc tránh thai uống do chứa hormon nên làm tăng nguy cơ ung thư vú cũng theo cơ chế này.
Ngoài ra, thuốc tránh thai uống làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung do gây ra những biến đổi của tế bào cổ tử cung, làm cho các tế bào này trở nên nhạy cảm với các tác nhân thường có mặt ở cổ tử cung như HPV.
Trong khi đó, thuốc tránh thai uống làm giảm nguy cơ mắc các ung thư khác có thể do các nguyên nhân sau:
- 👉 Ngăn chặn sự tăng sinh của tế bào nội mạc tử cung (nên giảm nguy cơ ung thư nội mạc cổ tử cung)
- 👉 Giảm số lượng trứng rụng trong suốt cuộc đời người phụ nữ, do vậy giảm sự tiếp xúc với các hormon (giảm nguy cơ ung thư buồng trứng)
- 👉 Giảm acid mật trong máu (nên giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng) [8].
Tóm lại, thuốc tránh thai uống có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú và ung thư cổ tử cung, trong khi làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư đại trực tràng. Chính vì vậy, khám sàng lọc định kỳ để phát hiện sớm ung thư vú và ung thư cổ tử cung là rất quan trọng ở những phụ nữ có sử dụng thuốc tránh thai uống, nhất là những người dùng trong thời gian kéo dài.
BS. Lê Văn Thành - Bệnh viện K
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Burkman R., Schlesselman J.J., and Zieman M. (2004). Safety concerns and health benefits associated with oral contraception. American Journal of Obstetrics and Gynecology, 190(4), S5–S22.
2. Bassuk S.S. and Manson J.E. (2015). Oral contraceptives and menopausal hormone therapy: relative and attributable risks of cardiovascular disease, cancer, and other health outcomes. Annals of Epidemiology, 25(3), 193–200.
3. (1996). Breast cancer and hormonal contraceptives: collaborative reanalysis of individual data on 53 297 women with breast cancer and 100 239 women without breast cancer from 54 epidemiological studies. The Lancet, 347(9017), 1713–1727.
4. Smith J.S., Green J., de Gonzalez A.B., et al. (2003). Cervical cancer and use of hormonal contraceptives: a systematic review. The Lancet, 361(9364), 1159–1167.
5. Gierisch J.M., Coeytaux R.R., Urrutia R.P., et al. (2013). Oral Contraceptive Use and Risk of Breast, Cervical, Colorectal, and Endometrial Cancers: A Systematic Review. Cancer Epidemiol Biomarkers Prev, 22(11), 1931–1943.
6. Michels K.A., Pfeiffer R.M., Brinton L.A., et al. (2018). Modification of the Associations Between Duration of Oral Contraceptive Use and Ovarian, Endometrial, Breast, and Colorectal Cancers. JAMA Oncol, 4(4), 516.
7. Havrilesky L.J., Moorman P.G., Lowery W.J., et al. (2013). Oral Contraceptive Pills as Primary Prevention for Ovarian Cancer: A Systematic Review and Meta-analysis. Obstetrics & Gynecology, 122(1), 139–147.
8. Murphy N., Xu L., Zervoudakis A., et al. (2017). Reproductive and menstrual factors and colorectal cancer incidence in the Women’s Health Initiative Observational Study. Br J Cancer, 116(1), 117–125.